Vietnamtv

December 18, 2009

NB Việt Thường 16/12/2009: “Bùi Tín và Tô Hải đã tự vẫn trong các bài viết hạ đẳng của mình” (Nguyễn Đức Chung – Hồn Việt UK online)

NB Việt Thường 16/12/2009: “Bùi Tín và Tô Hải đã tự vẫn trong các bài viết hạ đẳng của mình” (Nguyễn Đức Chung – Hồn Việt UK online)

1/2 suc vat bui tin suc vat to hai suc vat tay sai suc vat ho chi minh suc vat

2/2 suc vat bui tin suc vat to hai suc vat ho chi minh suc vat tay sai

November 22, 2009

Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Bài này chúng tôi viết đã hơn một năm trước đây. Trước những diễn biến HHHG dồn dập xẩy ra, chúng tôi xin đăng lại cho những người có chữ nghĩa như ông BS Bùi Duy Tâm và những ai khác đang muối mặt cúi đầu trước lá cờ máu tại hội trường diễn ra cuộc họp Việt Kiều tại Hànội, kể cả những ai đó không về họp nhưng vẫn ngóng cổ nhìn về để mong họ đọc và suy nghĩ về hành động của ho đối với đất nước và Dân Tộc. HTN.)

Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Nếu hòa hợp hòa giải (HHHG) Dân Tộc là con đường lý tưởng đưa đến phát triển đất nước thì tại sao cộng sản Việt Nam (CSVN) lại ban hành Nghị Quyết 36? Và nếu HHHG là giải pháp tốt đẹp để giải quyết các vấn đề của Việt Nam (VN) thì tại sao các nhà hoạt động chính trị tại hải ngoại lại không công khai tuyên truyền và cổ võ nó? HHHG dân tộc, vấn đề đã xưa cũ, nó chỉ là chuyện của dân gian và của báo chí. Tuyệt nhiên không thấy người ta công khai đề cập đến trong các cuộc hội họp chính trị, và ngay cả những nhà tranh đấu đòi dân chủ cũng thường tỏ ra úy kị nó. Như vậy có phải HHHG chỉ là hiện tượng ảo của một âm mưu đen tối nào đó làm người ta bị nhột khi phải đối diện với nó? Từ ngữ thời trang các nhà hoạt động chính trị thường sử dung hiện nay là đa nguyên đa đảng thay vì HHHG. Có lẽ vì thế dư luận mới cho rằng HHHG và đa nguyên đa đảng chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Loại giấy bạc này do CS Hànội in ra và dùng nó để mua sự khờ dại của những nhà hoạt động chính trị loại school smart (xin tạm dịch là mọt sách). Những người thực sự chủ trương HHHG với Việt gian cộng sản (VGCS) cũng không có ai giải thích vấn đề một cách tường tận. Chung quanh có rất nhiều câu hỏi cần phải được đặt ra. Tại sao phải HHHG với VGCS? Phải hiểu thế nào là HHHG? Những ai chủ trương HHHG? Những ai chống? Tại sao người ta không minh danh đặt vấn đề ra một cách công khai cho mọi người thảo luận để tìm ra chân lý, mà cứ phải úp úp mở mở, nói một đàng, làm một nẻo. Lấy cái gì để nói chuyện HHHG với VGCS? Hậu quả của việc HHHG sẽ ra sao? Vân vân và vân vân. Nếu không minh bạch hóa vấn đề thì HHHG hay đa nguyên đa đảng hơn kém chỉ nên coi là một màn xiệc mà chủ gánh là bọn chóp bu Hànội, không ai khác vào đây cả. Có nhiều màn trình diễn hấp dẫn. Chủ gánh không cần quảng cáo mà người hiếu kỳ vẫn tấp nập mua vé vào xem.

HHHG trong một tình trạng rất ư là mơ huyền … mờ như thế đấy. Bài viết xin được đóng góp một vài ý kiến nhỏ hy vọng soi sáng được phần nào những hóc hiểm đầy ảo thuật tính của màn xiệc hấp dẫn này. Mong những ai còn tha thiết đến vận mệnh của đất nước quan tâm hơn đối với vấn đề.

I. Sơ Lược Về Tình Hình Đấu Tranh Hiện Nay

1. Gió Đã Đổi Chiều

Khái niệm về chiến tranh đã thay đổi trong thời đại ngày nay, và hình như định nghĩa về chiến tranh cũng đang là độc quyền của một vài quốc gia có sức mạnh áp đảo. Ngày xưa du kích VC giật mìn xe đò, pháo kích trường học, nổ rạp hát, bắt người đi mò tôm v.v. chả thấy ai kết tội chúng là khủng bố cả. Nhưng bây giờ thì khác, chuyện lớn như ôm bom tự sát, chuyện nhỏ như liệng một trái phá tự chế không có ngòi nổ ở đâu đó, cãi cọ rồi xô xát với nhân viên của một phái đoàn ngoại giao, rải truyền đơn chống cộng v.v. tất cả đều được ghép chung vào một loại tội phạm gọi là tội “khủng bố”. Chữ “khủng bố” và chữ “chiến tranh” có nghĩa khác nhau một trời một vực. Chiến tranh xem ra còn ẩn tàng một một chút gì nhân đạo. Hai bên đánh nhau còn có cơ hội để thương lương hòa giải. Nhưng khủng bố thì không. Dù nặng hay nhẹ, biện pháp là tuyệt đối không tha, phải đuổi tận giết tuyệt. Điều trớ trêu là ngày nay bọn giật mìn xe đò, pháo kích trường học, chôn sống thường dân vô tội v.v. lại đang bô bô kết tội những hành động chống lại chúng là khủng bố. Và thật là tồi tệ, luật pháp nước Mỹ cũng thường khi y án phụ họa.

Sự đổi chiều quan điểm này đã khiến tất cả mọi khuynh hướng đấu tranh của chúng ta, trong cũng như ngoài nưóc nhất loạt thay đổi đường lối theo. Đấu tranh vũ trang tất nhiên bị dẹp bỏ vì đó là khủng bố. Tất cả các tổ chức tranh đấu đều đồng loạt tuyên bố đấu tranh bất bạo động. Đến như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước kia hung hăng đông tiến đem âm binh về giải phóng VN, nay đứa con quí tử là Việt Tân (VT) cũng sợ co vòi, chỉ còn dám nói canh tân để giải phóng đất nước. Lý Thái Hùng Tổng Bí Thư đảng VT tuyên bố: “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng chủ trương tiến hành một cuộc đãu tranh toàn diện, để xây dựng tự do dân chủ và để canh tân Việt Nam . Nghĩa là đấu tranh để ưu tiên chấm dứt ách độc tài hiện nay nhưng cũng đồng thời tiến hành những nỗ lực canh tân một cách chọn lọc và tích cực, đáp ứng nhu cầu chung và dài hạn của đất nước.” (Chủ trương và đường lối của đảng VT – Lý Thái Hùng , Berlin , Đức Quốc 19-9-2004).

Cương lĩnh, tuyên ngôn v.v. của các đảng phái và tổ chức mới ra đời lúc gần đây đều có cùng luận điệu như thế cả:

- Đảng Dân Chủ VN của ông Hoàng Minh Chính: Xây dựng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, bầu cử tự do và công bằng. Xây dựng cơ cấu quốc gia tam quyền phân lập (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều có thẩm quyền độc lập.) Sinh hoạt chính trị lành mạnh. Các đảng chính trị bình đẳng với nhau. Hoạt động của các đảng phái chính trị và nhà nước phải riêng biệt. Bộ máy hành chính quốc gia phải gọn nhẹ để phục vụ nhân dân một cách hữu hiệu.

- Đảng Dân Chủ Nhân Dân: Mục tiêu đấu tranh là hình thành một lực lượng đối lập công khai, để kịp thời ngăn chặn những hành động của nhà cầm quyền gây tổn hại cho đất nước và cho nhân dân……. Đấu tranh với chính quyền độc tài sửa đổi Hiến pháp và Pháp luật để phù hợp với ý nguyện nhân dân, hướng tới việc xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền.

- Đảng Thăng Tiến VN: Trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), nhằm mục đích xây dựng một Hiến pháp mới, để người Dân thực hiện quyền làm chủ Đất nước của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do với sự tham gia tranh cử bình đẳng của tất cả các Chính đảng ; qua đó nắm quyền lãnh đạo và quản lý Đất nước.

- Khối 8406: Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.

Khối 8406 nói có phần hơi mạnh mẽ hơn, nhưng cũng chưa đủ để xác định rõ sự khác biệt. Nhờ được tiếp xúc với một số người hiểu biết về Khối 8406, người viết tin tưởng rằng nhiều quí vị lãnh đạo nòng cốt của tập hợp chính trị này là những người rất đáng tin tưởng cả về mặt đạo đức cá nhân lẫn xã hội, có tinh thần dấn thân, can đảm và đầy nhiệt huyết. Tuy nhiên trong hành động, quí vị đó đã vấp phải một số sai lầm nguy hiểm, đến nỗi có dư luận coi khối 8406 cũng là dân chủ cuội. Đàng khác, Khối 8406 đã để Việt Tân xâm nhập và lũng đoạn nhiều quá khiến mất đi rất nhiều cảm tình và tin tưởng của người Việt hải ngoại. Đấy là chưa nói đến tình trạng nghi ngờ có chuyện cài người của VGCS. Ở trong nước chuyện này khó tránh khỏi. Tuy nhiên, thật sự là điều bất công nếu cứ vơ đũa cả nắm khẳng định rằng Khối 8406 là một tổ chức dân chủ cuội. Đành rằng cá thể có cuội trong đó, nhưng toàn thể thì nhất định không.

- Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN: Mục tiêu của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam là đấu tranh nhằm vận động sức mạnh của Toàn Dân để giải quyết dứt khoát sự lũng đoạn của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến thay thế triệt để thể chế chính trị độc đảng toàn trị lạc hậu hiện nay bằng thể chế chính trị đa đảng tiến bộ, nghĩa là thay thế sinh hoạt chính trị không công bằng, không chấp nhận cạnh tranh bằng sinh hoạt công bằng, có cạnh tranh trong sáng.

- Tổ Chức Phục Hưng VN: Tổ Chức PHVN chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên song hành với nỗ lực phục hưng Văn Hóa Dân Tộc.

- Liên Đảng Lạc Hồng: Xây dựng một Liên Minh Chính Trị đối lập có thực lực đối trọng với đảng CSVN. Liên Đảng Lạc Hồng quyết tâm thúc đẩy tiến trình đấu tranh chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị, góp phần phục hưng Dân Tộc và phát triển một quốc gia thực sự có đạo đức, dân chủ, tự do, hạnh phúc và văn minh.

- Lộ Trình 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thỉnh thoảng được nhóm Cao Trào Nhân Bản của ông tại Mỹ giới thiệu với chính giới Hoa Kỳ. BS Quế cũng chủ trương như các đảng phái trên, không có gì khác lạ. Gọi phương thức tranh đấu của nhóm này là chính trị sa-lông không sai. Họ đứng riêng lẻ, tranh đấu không có gốc, tức là không dựa vào quần chúng, mà chủ yếu là dựa vào cách bắt mạch xem cái ngọn tức đường lối của Hoa Kỳ rồi theo đó mà phất cờ. Nhóm Cao Trào Nhân Bản chỉ thấy tranh đấu đâu đó chung quanh Quốc Hội Hoa Kỳ, không thấy xuất hiện ở những chỗ đông người tỵ nạn như xuống đường hay biểu tình v.v. Nó biểu lộ cái quán tính của một số chính khách và đảng phái của miền Nam xưa kia.

Sự trùng hợp hoặc giống nhau đến nỗi người ta có thể tưởng tượng là tất cả các cương lĩnh và đường lối đều do cùng một tác giả viết ra. Mỗi đảng, mỗi tổ chức chỉ cần đem về sao chép, xào nấu lại, sửa lời văn đôi chút là đã có một bản cương lĩnh riêng của mình rồi. Đọc qua một số trích yếu từ các văn kiện chính thức của các đảng và tổ chức chính trị hiện nay, chúng ta thấy được hai điểm quan trọng: một là họ không minh nhiên lập trường tiêu diệt chế độ CS. Hai là họ chủ trương chế độ mà CS cũng được công nhận là một thành phần tham gia sinh hoạt trong đó. Rõ ràng đây là một hình thức hòa hợp. Sự hòa hợp này không hẳn đã có hòa giải nên chắc chắn sẽ lại đem đến xung đột về sau. Điều thiếu sòng phẳng là các đảng phái và tổ chức chính trị kia chủ trương HHHG với VGCS nhưng họ lại không dám tự nhận là mình có chủ trương đó. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi vì đại đa số đồng bào tỵ nạn không chấp nhận HHHG. Nếu họ tự nhận, họ sẽ mất cảm tình của đồng bào và sẽ bị đồng bào tẩy chay. Trường hợp của Việt Tân là một thí dụ.

2. Những Thành Phần Trong Bàn Cờ Chính Trị VN

Ở đây dĩ nhiên chúng tôi chỉ đề cập đến người Việt Nam . Có 4 thành phần. Nhìn qua lăng kính chính trị, và dù đứng dưới bất cứ góc độ nào cũng rất dễ dàng nhận ra.

- Thứ nhất: CS chuyên chính. Gọi là CS chuyên chính hay CS chính chuyên cũng đồng một ý nghĩa. Thành phần này đều là đảng viên đang tham gia vào cơ cấu chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. Bọn này tuyệt đối trung kiên và trung thành với đảng vì quyền lợi và vì đang có điều kiện hưởng thụ mà thường là bất hợp pháp. Ngoài ra còn phải kể đến vài nhóm và cá nhân ở hải ngoại. Loại này không phải là CS “chính chuyên”, nhưng tự đông làm việc nhiều khi không công cho VGCS, ngày trước còn làm vụng trộm, nhưng bây giờ ít thấy còn e dè lén lút nữa.

- Thứ hai: Nhân dân trong nước và đặc biệt đại đa số đồng bào tỵ nạn tại hải ngoai. Thành phần này không đội trời chung với CS, và tuyệt đối không chấp nhận sự có mặt của VGCS dưới bất cứ hình thức nào trong cơ cấu chính quyền vì họ đã và đang là nạn nhân trực tiếp của chế độ.

- Thứ ba: Cộng sản phản tỉnh. Dùng chữ phản tỉnh thực ra chỉ là miễn cưỡng. Gọi cho có cái tên mà thôi. Phản tỉnh là xét lại tư tưởng để tìm sai lầm mà sửa chữa. Câu hỏi đặt ra là đã có người CS nào thực tâm đi tìm sai lầm để sửa chữa chưa. Chủ nghĩa CS là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử con người. Hàng núi tài liệu và sách vở với vô số bằng chứng đã chứng minh rồi đấy. Lịch sử và thực tế đã công nhận rồi đấy. Các văn kiện đảng viết rõ ràng đảng CSVN là một chi bộ của CS Liên Sô, Hồ Chí Minh (HCM) là một cán bộ lãnh lương và hoạt động cho đảng CS Liên Sô. Đảng CS đã bán đất bán biển cho ngoại bang. Thế mà đã có ai trong số 3 triệu đảng viên CS dám nhìn nhận những tội ác và sai lầm đó không? Hoàng Minh Chính (HMC) chỉ là một tên CS theo chủ nghĩa xét lại. Ông ta chủ trương chống đảng để cứu đảng. Dân chủ mà HMC đòi là thứ dân chủ được lãnh đạo bởi phe CS của HMC. Tất cả chỉ có thế. Tôn HMC lên hàng “tổ tông” của phong trào dân chủ VN là chẳng hiểu gì về HMC. Xem phương án Tiểu Diên Hồng của ông ta tất sẽ hiểu ông ta. Ông ta không bao giờ phản đảng cả. Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang vẫn ca ngợi Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Trần Khuê phong thánh cho Hồ và gọi là đức thánh Hồ. Thánh Hồ còn ngồi trên cả quốc tổ Hùng Vương. Hà Sĩ Phu nói Trời cho dân và đảng hai bên chọn được nhau và sẽ còn là của nhau cho đến trăm năm đầu bạc. Lê Hồng Hà khẳng định đây là cuộc đấu tranh chấm dứt vai trò độc đảng, đảng trị của đảng CSVN, chớ không phải là cuộc đấu tranh để đánh đổ và xoá bỏ đảng CSVN. Còn nhiều và rất nhiều như thế lắm. Lê Hồng Hà đưa ra tuyên ngôn trên là lời giải thích rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa nhất thay cho cả bọn gọi là phản tỉnh này. Tất cả các thành phần được coi là phản tỉnh cốt cán trên đã có thấy ai nhìn nhận sai lầm và sửa sai chưa? Như thế thì làm sao gọi là phản tỉnh.

- Thứ tư: Thành phần thứ 3. Thành phần này đa số thuộc giới trí thức, già có, trẻ có. Tiếc rằng giới trẻ có học mà sao họ không biết gì về lịch sử và nhất là phong trào CS trên thế giới. Chuyện thật đáng lo ngại, nhưng không trách họ được vì nhà trường đã đào tạo họ như thế. Nhưng còn những người lớn tuổi, có học? Điều này mới thực là kỳ lạ. Hơn ba mươi năm trước họ sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng lại xu hướng CS. Sau 30-4-75 họ phải bỏ miền Nam vượt biên ra nước ngoài vì không thể sống được với CS. Ở hải ngoại họ lại ngoảnh đầu về trong nước và trông đợi ở những người CS phản tỉnh. Họ học cao và đã dầy dạn kinh nghiệm mà không thể hiểu rằng người CS phản tỉnh không bỏ đảng và cũng không chống đảng, chỉ chống những người CS đang cầm quyền mà thôi. Họ cũng không tiên đoán được rằng một chế độ đa đảng hậu CS sẽ đưa đất nước đi về đâu. Con đường đấu tranh của nhóm thuộc thành phần thứ ba này có thể tìm thấy qua lá thư của GS Nguyễn Chánh Kết viết gởi cho một người bạn của ông. Lá thư này ông gởi qua mạng internet có đoạn viết: “Hiện nay, điều quan trọng là chúng ta phải đoàn kết với tất cả những ai có khuynh hướng tranh đấu cho tự do dân chủ, cho đa nguyên đa đảng, bất kể họ là ai. Chúng ta phải tiến từng bước một, và tiến được tới đâu thì chấp nhận tới đó đã, rồi lại tiếp tục tiến tới nữa. Không nên chủ trương Tout ou rien, non à peu près, everything or nothing, not nearly (được ăn cả, ngã về không)”. Ông Nguyễn Chánh Kết kể là người ở trong nước. Còn ở hải ngoại, nhiều nhà trí thức cũng đã bầy tỏ bằng những luận điệu tương tự. Chẳng hạn BS Nguyễn Xuân Ngãi nói “đảng cuội (tức đảng Dân Chủ VN của Hoàng Minh Chính) cũng được đi, ủng hộ lầm có mất mát gì đâu”. Hoặc các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Trọng Việt, Nguyễn Ngọc Bích cũng đồng ca một giọng: cờ nào cũng là cờ, cả hai lá cờ không tốt sao.

3. Ôn Lại Một Chút Lịch Sử Để Rút Kinh Nghiệm

Tưởng cũng nên ôn lại vài bài học lịch sử Dân Tộc về HHHG cho những ai trí nhớ không được tốt.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc Hội đầu tiên của nước Vietnam họp khoáng đại ra mắt toàn dân tại Nhà Hát Lớn, Hànội. Cũng tại đây, ngày này, một chánh phủ liên hiệp kháng chiến được đưa ra trình diện Quốc Hôi. Chính Phủ này gồm đủ mặt các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, Dân Chủ, và nhân sĩ độc lập. Tình trạng hợp tác giữa các phe phái chính trị này ngày xưa gọi là liên hiệp, ngày nay nếu có ai gọi là đa nguyên đa đảng hay hoà hợp hoà giải chắc cũng không sai.

Chỉ 4 ngày sau khi Quốc Hội họp khoá đầu tiên, chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh cầm đầu đã ký với Pháp một văn kiện quan trọng gọi là Hiệp Ước Sơ Bộ, và sau đó ít tháng, Tạm Ước ngày 14-9-46. Ký hai văn kiện này, Hồ Chí Minh tạm coi như được rảnh tay đối phó với Pháp để dồn nỗ lực vào công việc thanh toán các đảng phái quốc gia và những thành phần chống đối Việt Minh. Thời kỳ này có thể ví như một đêm tối kinh hoàng trong lịch sử Dân Tộc. Hàng ngàn, hàng vạn những cuộc ám sát, bắt cóc, thủ tiêu bí mật trên khắp mọi miền đất nước do Việt Minh chủ động. Không có toà án nào xét xử.

Màn liên hiệp này thực tế đã cho thấy chỉ là trò bịp bợm do Hồ dàn dựng. Những người đứng về phe Quốc Gia có thể nói đã học được một bài học đắt giá về chuyện liên hiệp, hay đa nguyên đa đảng, hay hoà hợp hoà giải với CS.

Năm 1975, trong khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đang đổ xương máu chống lại sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc, thì một số chính khách tại miền Nam tự nhận là thành phần thứ ba tôn Dương Văn Minh làm thủ lãnh, công khai chiếm chánh quyền để thực hiện âm mưu bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Nhưng “thiên bất dung gian”, cái chính quyền vô năng bất lực này đã phải cay đắng bẽ mặt khi cả đám đứng lên nghênh đón tên sĩ quan CS bước vào phòng họp chính phủ tại dinh Độc Lập để nghe tên VC này hách dịch ra lệnh cho họ: “Dơ tay lên đầu hàng. Các anh có còn gì đâu mà đòi bàn giao”. Quân dân miền Nam mất tất cả đã đành. Những kẻ ôm mộng HHHG với CS cũng đã tiêu tán tất cả chì lẫn chài. Lần thứ hai người quốc gia lại học được bài học HHHG với CS. Nhưng lần này thì đau hơn nhiều Người quốc gia đã mất trắng tay, còn bị lưu đầy, tù tội, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán…!

Hai lần kinh nghiệm xương máu như thế đó mà ngày nay nhiều người vẫn chưa tởn. Nhiều người đang tự bôi xóa thân phận tỵ nạn của mình, đội mồ dựng dậy cái thành phần thứ 3 để đứng vào trong đó. Xem ra lịch sử lại đang tái diễn? Điểm đáng lưu ý là vấn đề HHHG tại hải ngoại thực tế không được các chính khách và đảng phái minh thị quảng diễn, nhưng lại được biểu lộ ra bằng rất nhiều hành động hai mặt để đánh lừa dư luận. Chẳng hạn đảng Việt Tân một mặt phái người về trong nước cho CS bắt để chứng minh ta đây chống cộng. Nhưng mặt khác, chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm lại cố tình trình bầy sai tình hình nhân quyền tại VN mà mục đích là để làm thất bại Dự Luật Nhân Quyền VN tại Quốc Hội Mỹ. Tình trạng đang diễn ra tại hải ngoại cũng gần giống như ngày trước khi miền Nam rơi vào tay CS Bắc Việt. Điều đáng lo ngại là người Việt tỵ nạn xem ra chẳng mấy cảnh giác về chuyện đó. Có phải họ đã qua sông nên đấm cò vào sóng!

II. Từ Đông-Âu Đến Việt-Nam

1. Sự Hình Thành Các Chế Độ Đa Đảng Hậu CS Tại Nga Và Đông Âu

Thập niên 1980, Liên Sô gặp phải rất nhiều khó khăn chồng chất. Năm 1985 Mikhail Gorbachev được bầu làm Tổng Bí Thư đảng CS Nga. Để giải quyết các khó khăn, ông đề ra 2 chánh sách trọng tâm: Perestroika (tái cấu trúc kinh tế và chính trị), và Glasnot (mở cửa). Cả hai chính sách này không những đã không giải quyết được khó khăn, mà trái lại là động cơ đưa đến sự sụp đổ của khối CS Liên Sô. Perestroika không vực dậy nổi nền kinh tế nước Nga mà làm cho tình trạng thiếu thực phẩm càng trầm trọng thêm đưa đến các cuộc đình công và biểu tình của dân chúng. Chính sách Glasnot bãi bỏ nạn độc bá quyền hành (monopoly of power) đưa đến sự ly khai của các nước cộng hòa thành viên của khối. Cuối cùng tháng 2–1990, đảng CS Nga bị giải thể, và chỉ một năm sau toàn thể Liên Bang Sô Viết sụp đổ.

Trong bối cảnh đó, các nước CS Đông Âu lần lượt sụp đổ theo. Sự ra đi của các đảng CS tại các nước Đông Âu tương đối êm thắm. Thí dụ như đảng CS Bulgaria tự động biến thể để trở thành đảng Xã Hội Bulgaria . Đảng CS Szechoslovakia (Tiệp Khắc. Hiện nay là Czech Republic ) nhường sân chơi lại cho Civic Forum của kịch tác gia Vaclav Havel. Trừ ra tại Romania , cuộc thay đổi đã đưa đến đổ máu. Tổng Bí Thư đảng là Nicolae Ceaucescu bị giết chết trong cuộc nổi loạn của dân chúng cùng với 1104 người nữa chết và 3352 bị thương. Chính vì có sự đổ máu, nhiều người cho đó là một cuộc đảo chánh hơn là một cuộc cách mạng. Cũng nên nói qua đôi chút về nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ. Đất nước của con cháu Thành Cát Tư Hãn nằm trong luc địa Châu Á chứ không phải Châu Âu. Mông Cổ trở thành một quốc gia CS rất sớm, chỉ sau Nga. Khi Gorbachev tung ra chính sách đổi mới thì Mông Cổ tự động chuyển sang chính thể dân chủ liền. Tân Hiến Pháp 1992 công nhận chế độ đa đảng. Hiện nay nước Mông Cổ dân chủ có 2 đảng phái lớn hoạt động là đảng Nhân Dân Cách Mạng và đảng Dân Chủ. Thật đáng khen cho những người CS Mông Cổ và đáng mừng cho nhân dân nước này. Mừng cho người nhưng không khỏi tủi hổ cho chính mình. CSVN vẫn ôm cứng lấy cái gọi là chế độ Marxit-Leninnit bách chiến bách thắng ba xạo.

Sự kiện các chế độ CS tại Liên Sô và Đông Âu bị sụp đổ đã làm cho chế độ Hànội vô cùng lo sợ và lúng túng. Điều thất vọng nhất của VGCS bấy giờ là trong lúc cả nước đói rã họng, thế giới tư bản cấm vận, quân đội còn bị sa lầy ở Cam Bốt, bị đe dọa thường trực bởi quan thầy phương Bắc là Trung Cộng, chỉ còn một nơi trông cậy duy nhất là Liên Sô thì Liên Sô sụp đổ. CSVN tưởng chừng khó tránh khỏi tai kiếp. Ấy thế mà chỉ trong một thời gian ngắn không đầy một thập niên, chúng lại hồi sức và đứng vững. VGCS như một con tắc kè tinh quái, chúng đổi mầu rất nhanh để thích ứng với hoàn cảnh mới.

Nhưng thật ra cũng chẳng có gì lạ. Chỉ là may mắn thôi. VGCS thoát hiểm được là vì những điều kiện khách quan xẩy ra vào lúc đó hoàn toàn có lợi cho chúng. Người dân trong nước thì kiệt sức vì đói phải lo cho cái bụng trước đã. Đồng bào tỵ nạn bên ngoài ai nấy cũng cần dành nỗ lực và thời giờ để làm lại cuộc đời nơi đất khách quê người. Các cường quốc Mỹ, Nga, Tầu, kẻ sút càng, người gẫy gọng, không anh nào lành lặn. Cả ba đều không còn hơi sức đâu mà để tâm chấp nhất với thằng điếm thúi CSVN. Thế là VGCS thoát nạn. Gặp lúc nguy khốn, là một tên lưu manh vô cùng street smart (xin tạm dịch là khôn vặt), VGCS đã học hỏi và rút tỉa được rất nhiều kinh nghiệm trong việc mưu sinh thoát hiểm. Với bản chất lưu manh bịp bợm số một trong thiên hạ, cùng với những kinh nghiệm tích lũy được, VGCS đã trở thành mô hình tồn sinh mà Kim Chính Nhất và Fidel Castro phải bái sư để học đạo.

2. Những Khác Biệt Giữa CSVN Và CS Đông Âu

Ở Đông Âu người CS và người không CS sống hòa đồng với nhau thời hậu CS trong gần hai thập niên qua. Họ hòa nhập với nhau và từ từ giải quyết những mâu thuẫn một cách tương đối êm đẹp. Nhưng nếu đặt ra vấn đề chung sống Quốc/Cộng tại VN, chuyện chắc chắn phức tạp hơn rất nhiều. Mấu chốt nguy hiểm trong vấn đề HHHG hay bầu cử đa đảng để chung sống với VGCS ở tại hai yếu tố cũng là hai khác biệt căn bản giữa CS Đông Âu và CSVN sau đây.

2.1 Khác về đảng tính.

Vào tháng 3-1940 trong khu rừng núi Katyn tại Ba Lan, có 21.768 người Ba Lan bị chôn sống, trong đó có 8.000 là sĩ quan, còn lại là các viên chức hành chánh và thường dân vô tội. Cuộc tàn sát dã man này không có đảng CS Ba Lan nhúng tay vào, mà là do Hồng Quân Liên Sô thực hiện. Mùa Xuân 1968 nhiều cuộc xuống đường rất lớn đòi tự do dân chủ của nhân dân Tiệp Khắc tại thủ đô Prague bị dẹp tan. Nhà nước CS Tiệp không xua cảnh sát và quân đội dẹp biểu tình, mà là quân đội của Minh Ước Warsaw do Liên Sô cầm đầu tràn vào để dẹp. Biến cố này thường được gọi là Mùa Xuân Prague. Alexander Dubcek, bí thư thứ nhất Ủy Ban Trung Ương đảng CS Tiệp thà chịu bị bắt giải về Liên Sô ngồi tù chứ không chịu ra lệnh giải tán đồng bào của mình biểu tình.

Nhưng VGCS thì khác hẳn. Năm 1953 Hồ và đảng CS theo lệnh Mao Trạch Đông và xin chỉ thị của Stalin phát động cuộc cải cách ruộng đất giết chết hàng trăm ngàn nông dân tại miền Bắc. Tết Mậu Thân 1968, quân CS Bắc Việt tràn vào thành phố Huế sát hại tại chỗ không kể, còn bắt đem đi chôn sống khoảng 6.000 đồng bào. Năm 1975, VGCS sau khi chiếm miền Nam , đã giết chết tại chỗ không xét xử một số không thống kê được nhưng chắc chắn không phải ít. Chúng còn ra lệnh đầy ải khoảng 300.000 quân, cán, chính, và người miền Nam vào các trại tù cải tạo. Số người chết trong tù rất nhiều và cũng không sao thống kê được. Mỗi người còn sống bị giam cầm và hành hạ tính trung bình là 12 năm mới được thả ra. Các cuộc trả thù dã man này đều do những người CS miền Bắc nhắm vào người Quốc Gia miền Nam . Tất cả đều là người Việt Nam , người CSVN miền Bắc hành hạ và giết chết đồng bào mình.

Cung cách hành xử của CS Đông Âu và CSVN đối với những người cùng dòng giống của họ cho thấy có một sự rất khác biệt về nhân tính và cả về tinh thần dân tộc. Người CS Đông Âu ít ra còn có nhân tính và tình đồng bào hơn bọn CSVN. Cuộc thảm sát người Ba Lan tại rừng Katyn là do Liên Sô chủ trương. Họ là ngoại bang. Ông Dubcek thà bị ngoại bang bỏ tù chứ không đàn áp đồng bào của mình. Trong khi đó, bọn VGCS theo lệnh Nga và Tầu không ngần ngại giết, đập đầu, chôn sống đồng bào của mình không thương tiếc. Và cho đến bây giờ, chúng vẫn còn không buông tha cho những người đã thua trận, đồng bào của chúng, được sống an bình hạnh phúc dù họ đã chạy ra nước ngoài. Sự tàn ác của VGCS thể hiện rõ cái gọi là “tính đảng” của con người CS. Tính đảng bắt buộc phải là phi nhân tính và phi dân tộc tính. Đúng nhất nên gọi là thú tính. Người CS lý tưởng là con người đã mất hết tính người, chỉ còn lại thú tính.. Nhìn chung, CS Đông Âu tương đối còn có nhân tính, trong khi CSVN hành động hoàn toàn theo thú tính, hay đảng tính cũng thế. Loại mặt người dạ thú này, trong xã giao bình thường chúng ta cần lánh xa, trong công việc làm ăn thì không thể hợp tác, trong sinh hoạt chính trị dứt khoát không bao giờ nên tin tưởng. Qua cung cách hành xử của họ, có thể kết luận được rằng CSVN vượt xa CS Đông Âu trên phương diện thể hiện sự man rợ của tính đảng. Từ đó cho thấy những người CS và không CS tại Đông Âu còn có thể HHHG và sinh hoạt đa đảng với nhau được. Nhưng người VN quốc gia và VGCS sống chung với nhau là vấn đề không có gì làm bảo đảm.

2.2 Khác về quyền lợi.

Một sự khác biệt nữa rất đáng lưu ý là sự chênh lệnh về tài sản thủ đắc và các đặc quyền kinh tế giữa CSVN hiện nay với các đảng CS Đông Âu lúc họ phải từ bỏ quyền hành. Hai mươi năm về trước, các nưóc CS tại Đông Âu chưa có chính sách mở cửa với bên ngoài, trái lại họ vẫn còn tự bao vây mình bằng những bức màn sắt. Trong nuớc dân chúng sống lầm than khổ cực. Nền kinh tế quốc gia èo ọt trao đổi quanh quẩn với nhau trong khối Komecon. Do đó, bọn cán bộ đảng cũng chẳng lấy gì làm giầu có lắm mặc dầu được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi hơn người dân thường. Một số ít chẳng bao nhiêu các lãnh tụ sống xa hoa vương giả chẳng hạn như Ceaucescu. Không thấy tin tức tiết lộ có người nào là tỷ phú hay triệu phú như các cán bộ CSVN hiện nay. Những người tỵ nạn về VN thăm nhà cho hay bí thư hay chủ tịch xã triệu phú dollar là chuyện khá bình thường. Theo tin tức phổ biến trên Internet thì có khoảng 300 cán bộ đảng viên có tài sản trên dưới 100 triệu dollars, hàng chục tên cấp ủy viên trung ương đảng thủ đắc con số kếch xù hàng tỷ bạc. Tỷ phú VN giầu không thua tỷ phú Hoa Kỳ. Tình trạng chênh lệch giầu nghèo giữa đảng viên với người dân cùng với những đặc quyền và đặc lợi bọn đảng viên được hưởng là nguyên nhân chính gây bất ổn định xã hội thường trực tại VN. Từ đó làm phát sinh ra những phong trào tranh đấu, đặc biệt là phong trào dân oan trong cả nước. Tóm lại, những bất công xã hội do cộng sản tạo ra tại Đông Âu trước đây và VN hiện nay khác nhau rất xa. Tại Đông Âu, tình trạng còn có thể chịu đựng được. Nhưng tại VN ngày nay, sự bất công đã vượt quá sức chịu đựng của con người. Hiểu được tình trạng xã hội của các nước CS Đông Âu, người ta sẽ không thắc mắc tại sao ở đó con người dễ dàng hòa hợp hòa giải với nhau khi CS từ bỏ quyền hành. Nhưng tại VN, cả nước dân oan hòa hợp được với đảng CS thật sự là điều hoang tưởng.

Đang ở trên vị trí nắm quyền, chiếm hữu mọi quyền lợi kinh tế trong tay, đảng CS không ngu dại gì mà chịu chia sẻ quyền lợi và địa vị cho người khác. Hơn nữa chúng vốn là một đảng độc tài về mặt hành xử, kiêu căng trong tư duy, và cố chấp trên lập trường. Kêu gọi chúng, dễ dàng vậy sao? Lấy súng kê vào cổ thì họa may, còn không thì vô phương. Sự thể chỉ có thể xẩy ra trong trường hợp tới một lúc nào đó đảng sắp xuống lỗ nên để sống còn, chúng không buông cũng bắt buộc phải buông. Tới lúc lúc đó CS cũng chỉ chịu chia quyền, còn chia tiền thì hẳn là không bao giờ. Chịu mất đi quyền hành, nhưng có tiền trong tay và nắm giữ những quyền lợi kinh tế, VGCS sẽ phải hành động như thế nào để xoay xở mà tồn tại thì nhắm mắt cũng nhìn thấy được. Đó là việc dùng đồng tiền để mua chuộc. Có tiền mua tiên cũng được kia mà. Mua chuộc đang là chiến thuật hữu hiệu bọn VGCS áp dụng để chiến thắng người tỵ nạn ở hải ngoại. Không lấy đó làm một bài học thì thật là uổng phí. Cho nên thật là điều mơ mộng nếu những đảng phái tay trắng của chúng ta dám thách đố CS chấp nhận đa nguyên đa đảng và tranh đua bầu cử trong tình trạng như thế.

Những người chủ trương HHHG hay đa nguyên đa đảng với VGCS nếu không sáng suốt nhận ra lẽ thắng/thua sẽ phải thua CS một cách danh chánh ngôn thuận. Phòng bệnh hơn chữa bệnh là lời dậy bảo rất đúng của ông cha ta. Từ suy luận thông thường và từ những kinh nghiệm hàng ngày cho thấy trong tình hình hiện tại, tiền bạc và quyền lợi vật chất sẽ giúp cho VGCS dễ dàng thắng trong bất cứ một cuộc bầu cử nào. Và nếu nhìn lại lịch sử tranh chấp Quốc/Cộng trong thời gian qua, người ta có thể tiên đoán rằng yếu tố tính đảng của CS sẽ lại nhanh chóng phân hóa nội tình chính trị và mọi chuyện sẽ trở lại như cũ ngay sau khi bầu cử.

3. Kết Quả Bầu Cử Trong Điều Kiện Hiện Tại

Đây chỉ là giả thuyết đặt ra. Căn cứ vào hai yếu tố then chốt nêu trên, chúng ta thử làm một vài ước tính để tìm xem kết quả bầu cử sẽ ra sao. Mặc dầu là giả thuyết nhưng khả năng trở thành hiện thực của nó có thể tin được với một sai số không đáng kể.

3.1 Dựa trên lý luận.

Hiện nay quân đội, công an, chính quyền các cấp từ trung ương cho đến địa phương đều nằm trong tay đảng CS. Đảng CS còn có khả năng khống chế được toàn dân nhờ Mặt Trận Tổ Quốc và những ngoại vi của nó. Hơn thế nữa, những phương tiện và dịch vụ liên quan đến bầu cử như truyền thông báo chí, giao thông vận chuyển, an ninh trật tự v.v. cũng đều nằm trong tay đảng CS. Như thế hiển nhiên CS hưởng được lợi thế tuyệt đối so với các đảng phái khác. Và một điều quan trọng hơn hết không thể không biết đến. Đó là CS vừa là một đảng chính trị lâu đời, có tổ chức, và được rèn luyện, vừa là một tập đoàn tư bản giầu có hơn bất cứ đảng chính trị nào. CS nắm những ưu thế đó trong tay, ai dám tin sẽ đánh bại được CS bằng tuyển cử? Những lợi điểm của CS cũng chính là những bất lợi cho các đảng phái quốc gia. Nếu cứ khơi khơi đòi đa nguyên đa đảng mà không khắc chế được những bất lợi kia và hoạch định được những kế hoạch tỉ mỉ cần thiết để đối phó, rồi khi CS đồng ý chấp nhận cuộc chơi, tức đồng ý cho đa nguyên đa đảng, thì lòng tự tin tất thắng của những người chủ trương HHHG rất có cơ sẽ biến thành một màn tự sát chính trị. Qua cuộc bầu cử “dân chủ” như thế, nhân dân VN sẽ lại được quyền hô vang khẩu hiệu: đảng CSVN quang vinh muôn năm.

3.2 Bằng tính toán cụ thể.

Thử làm một con toán lớp ba đơn giản để tìm kết quả thắng bại nếu tranh cử chung với CS. Bài toán lấy thí dụ và ước lượng bằng những con số chẵn đơn giản cho dễ thấy như sau :

Dân số Vietnam hiện nay ước lượng là 84 triệu. Con số những người đến tuổi và đủ điều kiện đi bầu tạm tính là một nửa, tức 44 triệu cử tri được quyền đi bầu.

Đảng CS có 3 triệu đảng viên. Trung bình mỗi gia đình đảng viên này có thêm 2 người có quyền đầu phiếu là vợ và một con đã trưởng thành. Vợ và con chắc chắn sẽ đầu phiếu theo chủ gia đình tức người đảng viên. Như vậy đảng CS nắm chắc số cử tri bầu cho họ là:

3 triệu x 3 = 9 triệu phiếu.

Trong bất cứ cuộc bầu cử nào vào lúc này, đảng CS cũng nắm chắc trong tay con số 9 triệu phiếu bầu cho chúng. Đấy là chưa tính đến những lá phiếu sẽ bầu cho đảng CS hoặc vì lý do thân thuộc, hoặc vì tình cảm bạn bè, lối xóm, hoặc vì quyền lợi cấu kết vv… Con số này tính dè sẻn cũng phải là 3 triêu phiếu. Tóm lại đảng CS sẽ chắc chắn nắm được:

9T + 3T = 12 triệu phiếu, tức 27% tổng số phiếu bầu.

Các đảng phái không CS sẽ chia nhau số phiếu còn lại là:

44T – 12T = 32 triệu phiếu.

Trên đây là giả thiết 100% cử tri đi bầu trong điều kiện lý tưởng. Nghĩa là mọi người được đi bầu tự do, không bị đe doạ, không bị mua chuộc, hoặc bị bất cứ áp lực nào. Chưa biết có bao nhiêu đảng phái và tổ chức cử người ra tranh cử. Con số chắc sẽ rất đông. Sau khi nước Ba Lan thoát khỏi ách CS, trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên có 100 đảng tham gia tranh cử. Tại VN, cứ ước tính một con số khiêm nhượng là 30 thôi cho tiện. Như vậy trung bình mỗi đảng sẽ kiếm được một số phiếu bầu cho mình là:

32.000.000 : 30 = 1.067.000 phiếu, tức 1.07% tổng số phiếu

Trong tình hình phân hoá cùng cực của xã hội Vietnam hiện nay, thật khó có thể tưởng tượng được một chánh đảng nào có đủ uy tín để thu hút được số phiếu bầu vượt trên đảng CS là 27% tổng số phiếu.

Kết quả, đảng CS sẽ dẫn đầu trong cuộc bầu cử mà không cần gian lận hay mánh mung gì cả. Thế nhưng, nếu không gian lận và không mánh mung thì CS sẽ không còn là CS nữa. Quá khứ và bản chất lưu manh côn đồ của CS tuyệt đối bảo đảm cho lời khẳng định này. Với bản chất ma giáo, lưu manh, và bịp bợm sẵn có, CS chắc chắn sẽ còn thắng vẻ vang hơn thế nhiều. Nếu tin rằng CS hoàn toàn vô tư và ngay thẳng trong cuộc bầu bán cho dù là có quốc tế giám sát thì đúng là một niềm tin bệnh hoạn.

4. Dự Kiến Một Nước VN Sau Bầu Cử Đa Đảng

Như trên chúng tôi đã chỉ ra, trong một cuộc bầu cử đa đảng với những điều kiện hiện tại, VGCS chắc chắn sẽ thắng. Sự thắng lợi này sẽ mau chóng đưa đất nước đến tình trạng giống như nước Nga ngày nay hơn. Chẳng may nếu chúng thua, vấn đề cũng không có gì khác lắm. Cuộc hòa hợp vẫn sẽ không diễn ra thuận lợi như tại Đông Âu, vì như tôi đã phân tích, VN không cùng điều kiện như Đông Âu. Đất nước sẽ trở thành một Cambot thứ hai. Giống như Hunsen, kẻ có thế lực tiền bạc và hậu thuẫn từ bên ngoài mạnh hơn sẽ loại trừ đối thủ để một mình độc bá quyền hành. Thực chất cả hai nưóc Nga và Cambot hiện nay là những chế độ CS không có đảng CS. CSVN đang đi theo con đường của nước Nga thời Putin có pha mầu sắc tư bản Mỹ theo cách thức riêng của nó.

Mặc dầu là một giả thuyết, nhưng vẫn có thể tin rằng đến một lúc nào đó, khi đã chuẩn bị đầy đủ, và thấy mọi việc đã chắc ăn, VGCS sẽ chấp nhận chế độ đa đảng. Đa số người ta tin như thế. Người viết cũng tin như thế, bởi vì ngày nay dân chủ là một xu thế thời đại không thể đảo ngược được. Nhưng dân chủ như thế nào thì đó mới là vấn đề. Có dân chủ thật và cũng có dân chủ cuội. Theo một số các dữ kiện quan sát được thì có hai đường lối được xây dựng để làm cơ sở mà VGCS đang phải chuẩn bị cho một thể chế đa đảng trong tương lai. Một là việc tập trung guồng máy kinh tế vào trong tay các đại gia tư bản đỏ. Và hai là xây dựng một hệ thống quyền lực mafia với quyền chỉ định thừa kế. Thể chế này là một sự pha trộn ma quái giữa các định chế dân chủ tư bản và sức mạnh của quyền lực đen mafia CS. Hai cánh tay robot này nối kết lại sẽ tạo ra một nước VN mới không dân chủ cũng chẳng độc tài như nước Nga hay như Cambot hiện nay. Thế chế này không phục vụ cho người dân mà chỉ phục vụ cho những tên đầu lãnh CS sau khi chúng đã thay mầu đổi dạng.

Con đường tương lai đó được xây dựng trên kinh nghiệm VGCS học được trước hết từ nước Mỹ. Ở Mỹ người ta thường thấy nói đến tập đoàn siêu quyền lực gồm một số các đại gia bự điều khiển nước Mỹ. Ngày nay bọn VGCS đang muốn hình thành một cơ cấu siêu quyền lực như vậy. Hãy nhìn vào nền kinh tế quốc gia và hệ thống các xí nghiệp, các ngành thương mại và dịch vụ tại VN thử coi. Có cái gì là không nằm trong tay bọn cán bộ đảng viên hoặc gia đình hay thân nhân của chúng. Chỉ có một điều khác biệt là ở nước Mỹ một con người bình thường vẫn có cơ hội để trở thành đại gia nếu may mắn và có tài năng. Vì thế người Mỹ nào cũng có thói quen ôm giấc mộng American Dream trong đầu. Nhưng trong chế độ tiền chế của VN sau này thì không. Không nằm trong hệ thống tư bản đỏ thì dứt khoát không ai ngóc đầu lên nổi. Trong chế độ này cũng có bầu cử, cũng có đủ mọi thứ dân chủ, nhưng là thứ dân chủ đã được tiền chế. Với các phương tiện sẵn có trong tay, nhất là tiền bạc dồi dào không thiếu, thử hỏi CS tiền chế ra cái gì mà không được. Trong một cơ chế dân chủ như thế chỉ kẻ có tiền và có quyền mới là người thực sự có dân chủ.

Một bài học khác VGCS học được từ nước Nga là sự hình hành một tổ chức nắm trọn quyền lực giống như một công ty thương mại trong đó chỉ những người này mới thực sự có quyền chọn lựa người lãnh đạo của đất nước. Người lãnh đạo cũng đưọc bầu bán đàng hoàng, nhưng thực ra là do bàn tay sắp xếp của công ty, hay đúng hơn là của người giám đốc công ty giống như Putin, người đặt Medvedev lên ghế tổng thống nước Nga. Biết đâu cơ quan gọi là Tổng Cục 2 (TC2) của CSVN, sản phẩm mafia quái dị của cặp bài trùng MA (Đỗ Mười và Lê Đức Anh) và do cha con Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh làm đầu nậu đang là bước đầu hình thành của một công ty quyền lực như thế. Hệ thống siêu quyền lực nặn ra những nhà cai trị đất nước. Lối thừa kế này không đến nỗi quá lố bịch như cha con Kim Nhật Thành – Kim Chính Nhất ở Bắc Triều Tiên, hay anh em Fidel Castro – Raoul Castro ở Cuba nhưng nó cũng kiến hiệu không thua kém. Sau khi Vladimir Putin hết nhiệm kỳ, ông truyền ngôi chủ tịch lại cho Dmitry Medvedev, một người rất thân cận và được tín nhiệm, đang là Phó Thủ Tướng đặc trách phát triển các dự án ưu tiên quốc gia và là chủ tịch Ủy Ban Điều Hành đại công ty dầu khí Gazpron. Quyền truyền ngôi của Putin không do luật thành văn, mà do luật rừng cho phép. Putin trong suốt thời gian nắm quyền đã không ngừng đưa nền dân chủ son trẻ của nước Nga đi xuống, nghĩa là tập trung vào trong tay ông ta và đồng bọn. Theo giáo sư Stephen Kotkin nhà sử học và là giám đốc của chương trình nghiên cứu Âu-Á và Nga của đại học Princeton thì “nước Nga dưới chế độ Yeltsin dân chủ hơn dưới chế độ Putin rất nhiều (Lecture given on Feb.15, 2007 in Philadelphia)”. Việc Putin thu hồi các quyền dân chủ của nước Nga khởi đầu từ chuyện kiểm soát và thuần hóa 3 hệ thống truyền hình lớn nhất nuớc. Rồi sau đó đến các loại báo in và báo online. Vẫn theo GS Kotkin, Nga bây giờ là nơi nguy hiểm cho giới ký giả được xếp vào hàng thứ 3 sau Iraq và Colombia . Putin giảm bớt quyền tự trị của các địa phương và đặt các tướng lãnh và cựu sĩ quan KGB trung thành với ông ta kiểm soát tất cả các định chế chính trị cũng như các công ty, xí nghiệp của nước Nga. Người ta gọi chế độ Putin là Tổ Hợp Kremlin (Kremlin Incorporation = Kremlin Inc.) để chỉ tính cách tập quyền của nó, nhưng có lẽ chưa diễn tả đúng tình trạng. Đúng nhất nên gọi nước Nga hiện nay là chế độ cộng sản không có đảng CS. Một thể chế hỗn hợp Mỹ Nga như thế đúng là cái VGCS mong muốn. Nó mặc bên ngoài cái vỏ dân chủ, nhưng bên trong là sự toàn quyền thao túng của CS.

Một thế chế đa đảng như thế đưa đến hai hệ quả quan trọng. Thứ nhất, đảng CS cho dù đã biến thái vẫn là một trung tâm quyền lực vô địch. Những đảng phái cơ hội sẽ biến thành ngoại vi của đảng CS để kiếm chút cháo. Các đảng phái yêu nước kết cưộc đành phải chịu bất lực trong cái ao tù dân chủ giả hiệu này mà thôi. Thứ hai, người dân sẽ không còn lý do chính đáng nếu muốn tranh đấu cho quyền lợi của mình, vì một chế độ như thế là đạt qui luật trò chơi dân chủ rồi. Nó đã được thế giới đóng ấn thừa nhận. Kiểu mẫu dân chủ tiền chế này hiện đang được trưng bầy để quảng cáo tại nước láng giềng Cambốt của chúng ta.

III. Vấn Đề Không Phải Dễ

Muốn hòa hợp thì phải có hòa giải trước đã. Hòa giải là việc giải quyết êm đẹp những bất hòa giữa hai người hay hai bên tranh chấp. Câu hỏi đặt ra là trong vấn đề HHHG hay bầu cử đa đảng tại VN có những bất hòa gì cần phải giải quyết?

Cuộc chiến tranh VN chính thức kết thúc vào ngày 30-4-1975 khi ông Dương Văn Minh soán đoạt quyền tổng thống VNCH tuyên bố đầu hàng CS Hànội. Cách thức chấm dứt chiến tranh này được mô tả rất đúng qua câu người ta thường nói “được làm vua, thua làm giặc”. Người miền Nam thua trận bị dán cái dấu ấn chữ “Ngụy” trên trán cảm thấy còn tủi nhục hơn chữ “giặc” rất nhiều. Đấy là về mặt tâm lý tình cảm. Trong thực tế đời sống, nhà cửa, đất đai, tài sản của những kẻ thua trận bị cướp đoạt hầu như chẳng còn gì, thân phận con người trở thành nô lệ hoặc tù đầy. Đấy là ý nghĩa rất phản biện của cái chiêu bài gọi là “giải phóng” của những kẻ chiến thắng. Thế giới mù lòa nồng nhiệt vỗ tay hoan hô cái màn ảo thuật đó.

33 năm sau cũng ngày 30-4 mới có được một người CS là ông Bùi Tín tuyên bố cho mọi người biết sự thật, tuy trễ nhưng có vẫn còn hơn không: “Hôm nay tôi sẵn sàng nói to cho mọi người nghe rõ: đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất.” Có thể Bùi Tín đang cố gắng vượt qua chính mình, nhưng còn 3 triệu đảng viên CS khác? Mặc dầu lời nói của Bùi Tín vẫn không đủ để bảo đảm cho những hành động khuất lấp của ông ta xưa nay. Chúng ta chưa tin nổi Bùi Tín, nhưng cũng nên ghi nhận ở đây sự can đảm của ông ta. Tư duy và hành động của ông Bùi Tín cũng chưa đạt tới mức độ yêu cầu của sự hòa giải giữa hai bên Quốc/Cộng. Vả lại ông Bùi Tín chỉ là một cá nhân, một cá nhân đã bị loại ra khỏi guồng máy cầm quyền. 33 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, người ta mới thấy rõ kẻ thắng đã đoạt được tất cả trừ ra cái Chính-Nghĩa của việc họ xua quân chiếm miền Nam, còn người thua phải mất tất cả chỉ còn lại cái Lý-Tưởng trong công cuộc chống lại bọn chiếm đóng, và cái Danh-Dự của những con người muốn làm người. Càng ngày người VN Quốc Gia càng ngẩng cao đầu và hãnh diện về điều đó.

CS vào Saigon là bắt đầu con đường đi xuống của chúng. Hiện nay, con đường tất yếu để sống còn là đảng CS phải chấp nhận thể chế đa nguyên đa đảng, nhưng họ phải thực hiện từng bước lột xác sau đây thì mới có hòa giải thực. Trước hết là cần xác định thế đứng trong cộng đồng dân tộc, vì đó là nguyên tắc. Thứ hai, trả lại các quyền công dân cho dân tộc VN và danh dự cho những người bị lăng nhục. Đây là vấn đề quyền lợi và danh dự. Và cuối cùng, xác định Hồ Chí Minh là tên Việt gian bán nước, đạp đổ thần tượng Hồ và vứt bỏ đi những vầng hào quang giả tưởng chống Pháp, chống Mỹ đem lại độc lập thống nhất cho Dân Tộc, giải phóng miền Nam. Những cuộc chiến này thiếu lý do chính đáng, phí phạm xương máu đồng bào, và tất nhiên không có chính nghĩa.

1. Xác Định Thế Đứng – Đảng CSVN phải xác định rõ thế đứng của họ trong cộng đồng dân tộc. Đây là vấn đề nguyên tắc.

Tờ Thanh Niên ở bên Pháp của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) số ra ngày 20-12-1926 viết: “Chủ nghĩa ái quốc là một điều nguy hiểm”, và “Giai cấp vô sản không có tổ quốc”. Tờ Người Cùng Khổ (Le Paria) cũng của Nguyễn Ái Quốc, năm 1931 xác định lại một cách rõ ràng hơn: “Vô sản Đông Dương không có tổ quốc”. Qua hai bài báo, người CS đã phủ nhận 2 yếu tố căn bản liên hệ giữa con người và đất nước là tổ quốc của mình và lòng yêu nước. Chưa hết, không biết bao nhiêu sách vở, bao nhiêu bài viết ngày nay được kể là sử liệu cho biết đảng CSVN là một chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế CS, và Hồ chí Minh là một cán bộ của tổ chức quốc tế này. Chính HCM khi còn mang tên Nguyễn Ái Quốc đã tuyên bố: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế CS giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ ….” Như thế người CS lấy tư cách gì để nắm quyền cai trị đất nước khi họ tự nhận mình vô tổ quốc? Và cầm quyền để phục vụ cho ai khi họ phủ nhận chủ nghĩa ái quốc? Họ phủ nhận tổ quốc tức là phủ nhận tư cách công dân của mình. Vậy họ có còn là thành phần trong cộng đồng dân tộc không? Họ có còn là công dân của nước VN không? Nếu người CS không xác định rõ vấn đề này, thiết tưởng việc đặt ra vấn đề hoà giải giữa đảng CS với nhân dân VN rõ ràng là một chuyện tào lao phi lý.

Một chuyện quan trọng khác nữa mà đảng CSVN cũng cần phải làm sáng tỏ trước khi bắt tay nói chuyện hoà giải. Đó là việc họ phải phổ biến công khai cho nhân dân VN biết nội dung toàn bộ các bản Hiệp Ước về biên giới và về lãnh hải mà họ đã âm thầm ký kết với đảng CS Trung Quốc. Đã từ lâu, vì nhân dân Vietnam không được cho biết nội dung các Hiệp Ước này nên dư luận nghi ngờ và gán tội cho là đảng CSVN bán nước. Đảng CS cần minh bạch chuyện quan trọng này với nhân dân. Họ có quyền biện bạch. Sự phán xét là quyền của của đồng bào Nếu nhân dân Vietnam nhận định quả thực đất đai và hải phận của Tổ Quốc bị vô cớ dâng hiến cho ngoại bang thật thì đảng CS khó tránh khỏi cái tội bán nước. Nếu đảng CS đã thực sự phạm tội bán nước thì việc đặt ra vấn đề hoà giải không còn cần thiết nữa. Nhân dân Vietnam nhất quyết không dung thứ cho bất cứ ai phạm tội bán nước. Kẻ bán nước, kẻ đồng lõa bán nước, và những kẻ đứng chung hàng ngũ với những kẻ bán nước đều là bán nước cả. Như vậy, thay vì đặt ra vấn đề hoà giải, giải quyết tội phạm bán nước như thế nào tùy thuộc thẩm quyền của công luận, của luật pháp quốc gia, và của lịch sử sau này.

2. Trả Lại Danh Dự Và Các Quyền Công Dân – Đảng CSVN phải trả các quyền tự do căn bản lại cho nhân dân VN và danh dự cho những người bị lăng nhục. Đây là vấn đề quyền lợi và danh dự.

Khi chiếm được miền Nam , CS gom chung tất cả mọi thành phần dân tộc tại miền Nam vào một giỏ gọi là “Ngụy”. Rồi từ đó phân ra thành ngụy quân, ngụy quyền, và dân ngụy. Đó là một sự lăng nhục đau đớn và tủi hổ nhất hằn sâu trong tâm thức mọi người dân miền Nam không phải là CS. Vết thương này cho đến bây giờ vẫn còn rỉ máu tươi hàng ngày. Nếu thực tâm hoà giải, đảng CS cần phải tối thiểu nói lên một lời xin lỗi công khai với nhân dân miền Nam . Người CS tự hào về tinh thần yêu nước của họ thế nào là quyền của họ, nhưng họ không thể phủ nhận lòng yêu nước của nhân dân miền Nam . Người miền Nam yêu nước theo đường lối và cung cách riêng của người miền Nam . Chủ Nghĩa Xã Hội không phải là di sản Vietnam . Do đó người miền Nam không yêu thích Chủ Nghĩa Xã Hội tuyệt đối không có nghĩa là họ không yêu nước.

Riêng đối với đồng bào tỵ nạn, không có ai dù yêu nước đến đâu, muốn trở về xây dựng đất nước với thân phận của một tên ma cô, hay đĩ điếm, hay cặn bã xã hội , những danh từ khả ố mà Phạm Văn Đồng, thủ tướng của chế độ CS liệng theo sau lưng những người chạy trốn chế độ bạo tàn này. Trở về giúp nước với thân phận đó không khác gì hơn là trở về như một tên đầy tớ bầy tỏ sự ăn năn hối lỗi van xin sư tha thứ của CS. nếu muốn hoà giải thực sự, đảng CS cũng phải công khai xin lỗi cộng đồng tỵ nạn tại hải ngoại và rút lại những lời lẽ thô bỉ và vô giáo dục kia. Không thể khi giận dữ ghét bỏ thì chửi bới là ma cô, đĩ điếm. Rồi khi cần đến thì lại dở giọng bợ đỡ là khúc ruột ngàn dặm. Muốn nói chuyện tử tế mà xuống nước hạ cấp như vậy xem ra nặng mùi và lợm giọng lắm. Đảng CSVN nên biết điều đó, bỏ những giọng điệu đểu cáng đó đi mới mong nói chuyện hoà giải được.

Không cần phải biện chứng, sụ thật hiển nhiên là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa VN là nguyên nhân làm cho nhân dân VN phải lầm than đói khổ, sinh linh đồ thán, lòng người ly tán, kinh tế tụt hậu mất định hướng, xã hội băng hoại, đất nước mất chủ nguyền, ngoại bang xâm lấn vv. Đảng CS phải thành khẩn tự kiểm điểm để thấy rằng việc họ tự ý áp đặt chủ nghĩa CS lên trên dân tộc VN là hoàn toàn sai lầm. Do đó họ phải trả lại các quyền tự do và dân chủ lại cho người dân. Những việc đảng CS cần phải làm là:

- Tức khắc và vô điều kiện trả tự do cho những tù nhân lương tâm và tù nhân chính trị.

- Trả lại các quyền tự do cho dân chúng, trước hết là quyền tự do ngôn luận và truyền

thông báo chí, tự do lập hội và hội họp, tự do tôn giáo.

- Giải tán Quốc Hội, bãi bỏ Hiến Pháp và các luật lệ mang tính chất đàn áp và kềm kẹp.

- Giải tán các tổ chức và đoàn thể công cụ dùng để đàn áp nhân dân như công an, dân

phòng, du kích, các đơn vị cơ động tỉnh, huyện, Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức

ngoại vi của Mặt Trận vv. Điều kiện này cần thi hành triệt để tiến tới một cuộc bầu cử

thực sự tự do và công bằng.

3. Đạp Đổ Thần Tượng Hồ Chí Minh – Xác định Hồ Chí Minh là tên Việt gian bán nước. Đạp đổ thần tượng Hồ và vứt bỏ đi những vầng hào quang giả tưởng chống Pháp, chống Mỹ đem lại độc lập thống nhất cho Dân Tộc, giải phóng miền Nam . Những cuộc chiến này không có lý do chính đáng, tốn kém xương máu, và càng không có chính nghĩa.

Có hai trở ngai lớn nhất mà người CS phải vượt qua nếu họ thành tâm tìm đến con đường hòa giải Dân Tộc. Thứ nhất là thần tượng Hồ Chí Minh (HCM), và thứ hai là lòng tự hào của người CS về công lao đem lại độc lập cho Tổ Quốc, giải phóng miền Nam. Đây là chuyện gai góc nhất, vì người CS và người Quốc Gia nhìn những vấn đề trên dưới các quan điểm chính trị khác nhau và theo những góc độ khác nhau. Cả hai bên đều tự hào về tinh thần yêu nước, nhưng lòng yêu nước của người CS chỉ là cái áo khoác ngoài lòa loẹt để che dấu cái thân phận nô lệ bên trong của người mặc nó. Do đó có những nhận thức khác nhau, và có những đánh giá khác nhau. Tuy nhiên sự thực vẫn là sự thực. Dù sao cũng chỉ có một sự thực khách quan không có gì làm thay đổi được. Hồ Chí Minh có phải là người yêu nước không, và đảng CSVN có giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân không thì chuyện vẫn còn đó, lịch sử đang trả lời, và thực tế cũng đang trả lời. Căn cứ vào những sự thật khách quan và những bằng chứng không thể phủ nhận mà các nhà viết sử, các nhà biên khảo đã phanh phui, chúng ta thấy rằng HCM không phải là một người yêu nước và các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ do Hồ và đảng CS lãnh đạo thật sự không cần thiết và còn đưa đất nước đến chỗ suy vong như ngày nay.

3.1 Thần Tượng Hồ Chí Minh

Thần tượng HCM là nền móng chế độ CS xây trên đó. Nền móng sập, chế độ sập theo. CS hiểu rất rõ điều đó nên chúng cố tình tạo ra những huyền thoại về HCM. Chúng tô vẽ Hồ là cha già dân tộc, một con người yêu nước thương dân, cả đời hiến thân cho tổ quốc. Rồi từ đó đẻ ra nào là tư tưởng HCM, đạo đức HCM v.v. Mảng còn dấu kín của cuộc đời Hồ có thể còn lớn hơn mảng đã được phơi ra ánh sáng. Tiểu sử Hồ do đảng CSVN viết ra và một số sách vở do người ngoại quốc biên khảo mô tả Hồ là một ông thánh trong lối sống, và là vị anh hùng của dân tộc. HCM đúng thực là một con người của huyền thoại, nhưng cũng là của dối trá. Con người thần thánh này đang từ từ bị lột mặt nạ.

Chẳng ai biết rõ thân thế HCM. Đại khái được biết là Hồ sinh tại làng Hoàng Trù quê mẹ là bà Hoàng thị Loan, lớn lên tại quê cha làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hồ mang nhiều ngày sinh khác nhau. Tên thật của Hồ là Nguyễn Sinh Cung sau đổi là Nguyễn Tất Thành, con của một viên thư ký Bộ Lễ triều đình Huế là Nguyễn Sinh Sắc. Thế nhưng trong suốt cuộc đời, Hồ có tới trên 100 tên và bí danh khác nhau. Ngay cái tên Hồ Chí Minh cũng là một huyền thoại. Có tài liệu viết rằng HCM là tên hiệu của cụ Hồ Học Lãm Hồ ăn cắp để xài. Nhưng cũng có tài liệu viết rằng HCM là tên trên căn cước của một gã ăn mày homeless, tứ cố vô thân, người Tầu. Người ăn mày chết, Nguyễn Tất Thành ăn cắp được tấm thẻ căn cước của ông ta rồi mang tên ông ta luôn. Ngày xưa nạn xài căn cước lậu bên Tầu rất thịnh hành. Cái hào quang cách mạng, cứu nước đã che lấp đi bản tính gian ác, dối trá, lưu manh, bịp bợm và những tội ác của Hồ. Hồ sang Pháp là để xin vào học trường Thuộc Địa ra làm quan chứ không phải bôn ba tìm đường cứu nước. Hồ ăn cắp thơ văn của người khác, viết sách để tự ca tụng mình, bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp, làm mật báo viên cho mật thám Pháp, Nga, và Mỹ. Hồ là cán bộ ăn lương của đảng CS Liên Sô. Hồ ra lệnh giết bà Cát Thanh Long, người đàn bà đã hy sinh rất nhiều cho Hồ và cho đảng CS. Có thể nói Hồ đi đến đâu là lường gạt tình cảm phụ nữ đến đó. Ở Pháp Hồ lấy vợ đầm. Sang Liên Sô Hồ cướp vợ của đồng chí là Nguyễn Thị Minh Khai. Qua Trung Hoa Hồ lấy vợ Tầu. Về Hànội Cô Nông thị Xuân ở với Hồ một thời gian có con rồi bị Hồ ra lệnh thủ tiêu. Ít nữa Hồ có hai đứa con rơi nhưng không được thừa nhận là Nguyễn Tất Trung và Nông Đức Mạnh. Chuyện về đời tư của Hồ thì nhiều lắm, có tài liệu đàng hoàng, không sao kể cho hết được. Xin trích dẫn tài liệu Hồ viết đơn xin học trường Thuộc Địa làm bằng chứng. Tài liệu bằng tiếng Pháp được dịch sang tiếng Việt:

Marseille ngày 15 tháng 9, 1911

Kính gửi Tổng Thống Cộng Hoà Pháp

Tôi hân hạnh thỉnh cầu Ngài vui lòng cho tôi đặc ân được vào theo học Trường Thuộc Điạ với tư cách nội trú.

Hiện nay, tôi làm công cho hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville để sinh sống.

Tôi hoàn toàn túng quẫn và ham muốn được học hành. Tôi ước ao trở nên hữu ích cho nước Pháp trong tương quan đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể giúp đồng bào tôi hưởng những lợi ích của học vấn.

Tôi sinh đẻ tại Nghệ An, Trung Kỳ.

Trong khi chờ đợi một sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi cho tôi, Tổng Thống hãy nhận nơi đây lòng biết ơn trước của tôi.

Nguyễn Tất Thành,

Lá thư trên cho thấy HCM vì gia đình túng quẫn phải bôn ba xứ người để tìm kế sinh nhai chứ không phải đi tìm đường cứu nước. Xin học trường Thuộc Địa để ra làm quan cho Pháp là mục đích của Hồ. Một thần tượng như vậy mà đảng CSVN hô hào toàn dân học tập đạo đức của hắn? Còn gì mỉa mai hơn! Đạo đức Hồ như thế. Ấy vậy mà cả nước ta trong mỗi nhà phải đặt ảnh Hồ trên cả bàn thờ tổ tiên. Cả nước bị bịp. Bao nhiêu thế hệ VN bị bịp! Dân tộc VN đã trưởng thành và đang sống trong thời đại văn minh “dot com” không thể để bị lừa bịp như con nít mãi nữa.

3.2 Hào Quang Giả Tưởng

Hiện nay đa số cán bộ CSVN có thể đã biết rõ bản chất gian ác, lưu manh của Hồ, nhưng họ vẫn ngưỡng mộ Hồ về tinh thần yêu nước và công lao Hồ đã hiến dâng cho Tổ Quốc. Điều này đã trở thành đức tin không có gì lay chuyển nổi đối với người CS nên khó tẩy xóa được. Chẳng thế mà ông Trần Anh Kim, một người có tên tuổi trong giới tranh đấu cho dân chủ ở trong nước vẫn đánh giá Hồ có 9 công 1 tội đối với đất nước. Công của Hồ cũng kể là công của đảng bởi vì Hồ và đảng CS là hai thực thể không thể tách rời nhau. Những công lao này tạo nên hào quang cho đảng, cũng là cho tất cả mọi đảng viên. Về mặt này Hồ mới chính là thần tượng của người cán bộ CSVN. Tuy nhiên, với những khám phá về Hồ, hiện nay bất cứ người VN nào ở hải ngoại cũng có thể dễ dàng đánh tan những huyền thoại về mặt này của HCM.

Trước hết HCM không phải là người yêu nước. Nếu Hồ yêu nước, Hồ đã không bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp. Nếu Hồ yêu nước, Hồ đã không giàn dựng tấn tuồng giết TT Ngô Đình Diệm vì chính Hồ cũng đã phải nhìn nhận “Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách thức của ông ta”. Hồ còn ra lệnh giết hoặc thủ tiêu nhiều nhà ái quốc khác. Nếu yêu nước, Hồ đã không ký Hiệp Ước Sơ Bộ 03-3-1946 để mời Pháp trở lại VN và sau đó ngày 19-5 long trọng đón tiếp quân đội Pháp vào Hànội. Tờ Le Paria (Người Cùng Khổ) của Hồ viết “Vô sản Đông Dương không có tổ quốc”. Cụ thể dưới đây là bút tích của Hồ chứng tỏ Hồ là tay sai của Liên Sô. Tài liệu bằng tiếng Nga được dịch sang tiếng Việt:

Đồng chí Stalin kính mến !
Tôi gửi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam . Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của 2 đồng chí Liu Shaoshi và Van Szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản.
Hồ Chí Minh
31-10-1952

Một người đã manh tâm bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp, ký Hiệp Định mời Pháp trở lại VN, rồi lại chống Pháp vì lòng yêu nước, điều đó không nghịch lý lắm sao? Chúng ta có thể giải thích chuyện nghịch lý này bằng cách đặt nước Pháp vào bối cảnh thế giới sau thế chiến, đồng thời xét tương quan giữa Pháp với các thuộc địa của Pháp vào lúc đó.

Có hai sự kiện quan trọng sau Thế Chiến II cần lưu ý. Một là Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết trên thế giới dâng cao, được nưóc Mỹ ủng hộ. Và hai là nước Pháp đã kiệt quệ sau chiến tranh. Thử lấy tương quan tay 3 giữa Pháp , Algeria và VN làm cơ sở lý luận thì sẽ nhìn ra vấn đề. Algeria và VN đều là thuộc địa của Pháp. So với VN, Algeria lý tưởng hơn rất nhiều cho nước Pháp chiếm làm thuộc địa. Algeria rộng gấp gần 8 lần nước VN nhưng lại không đông dân bằng VN. Thực ra chỉ có Nam Kỳ mới là thuộc địa của Pháp. Nam Kỳ là vùng đất nông nghiệp trong khi Algeria cũng có những cánh đồng bao la trồng bông, lúa mì và cây olive. Đặc biệt Algeria lại có mỏ dâu đã được khai thác. Thủ đô Alger của Algeria chỉ cách hải cảng Marseille của Pháp chiều ngang biển Địa Trung Hải khoảng 600 hải lý, rất tiện lợi cho đường hàng không và đường biển, dễ dàng đi lại hơn cả Alaska và nước Mỹ mainland hiện nay. Trong khi đó từ nước Pháp tới VN phải đi nửa vòng trái đất. Một miếng mồi ngon hấp dẫn như thế, theo Olivier LeCour Grandmaison, sử gia Pháp, GS môn Chính Trị tại đại học Evry-Val d’Essonne, nước Pháp đã phải thi hành chính sách diệt chủng đối với người Algerian và biến xứ sở này thành một phần thống hợp của nước Pháp (The French pursued a policy of extermination against the Algerian and made Algeria an intergral part of France – Coloniser, Exterminer-Sur La Guerre et l’Etat Colonial, 2005).

Sau Thế Chiến II, De Gaulle ý thức rằng chính sách thuộc địa đã đến hồi cáo chung. Ông trả độc lập lại cho người Algeria . Nói chung, với các thuộc địa cũ, nước Pháp thừa hiểu rằng họ không thể áp đặt trở lại chính sách đô hộ được nữa, mà chỉ cốt ý làm sao giữ lại các quyền lợi kinh tế và ảnh hưởng văn hóa mà thôi. Biết như thế mới hiểu được rằng nuóc Pháp không có lý do gì trở lại chiếm VN làm thuộc địa một lần nữa. Vả lại Ngay từ 05-6-1948 qua Hiệp Ước Vịnh Hạ Long, nước Pháp đã trao trả độc lập cho Hoàng Đế Bảo Đại rồi. Sự thể rõ ràng là vì nước Pháp trao trả độc lập VN vào tay vua Bảo Đại chứ không cho HCM nên Hồ mới chống Pháp. Tuy nhiên cũng chưa đúng hẳn. Như trên chúng tôi đã phân tích, cao trào Dân Tộc Tự Quyết trên thế giới lúc bấy giờ lên rất cao, Hồ biết chắc chắn Pháp không thể nào nuốt trôi VN, nhưng Y vẫn phát động cuộc chiến chống Pháp vì một lý do thầm kín và rất quan trọng khác. Đối với Hồ và đảng CS, chống Pháp chỉ là “Diện”. Tiêu diệt các đảng phái quốc gia và những nhà ái quốc độc lập mới chính là “Điểm” của cuộc chiến. Chống Pháp, Hồ chỉ là có ý mượn cái áo chính nghĩa đuổi thực dân dổm mặc vào cho màn tiêu diệt người quốc gia mà thôi.

Sau này cũng vẫn thế, Hồ và đảng CSVN mượn chiêu bài chống Mỹ để chiếm trọn miền Nam . Khi CS phát động cuộc xâm lăng, miền Nam là một nước Cộng Hòa độc lập có chủ quyền, được nhiều nước trên thế giới công nhận và thiết lập bang giao. Người lãnh đạo miền Nam là một nhà ái quốc chân chính được thế giới kính nể, luôn nhất quyết từ chối Mỹ đem quân vào giúp. Hồ biết rằng có xúi bẩy bọn cán bộ nằm vùng tại miền Nam nổi dậy cũng không lật đổ được chính phủ VNCH. Xua quân miền Bắc vô thì rõ ràng là xâm lăng. Vì thế CS bắt buộc phải dựng thành kịch bản có lớp lang bằng cách lập công ty với Mỹ mượn bàn tay của một nhóm Phật Giáo để hạ bệ TT Ngô Đình Diệm. TT Diệm bị giết, Mỹ rơi vào bẫy của VGCS đem quân vào VN tạo ra lý do để CS miền Bắc xua quân tràn xuống miền Nam. chiến tranh gọi là chống Mỹ cứu nước của VGCS, chống Mỹ cũng vẫn chỉ là Diện, xâm lược miền Nam mói là Điểm của cuộc chiến. Chiêu bài chống Mỹ cứu nước cũng lại là cái áo chính nghĩa dổm CS mặc vào để thực hiện tham vọng. Không có cái chiêu bài này CS không có lý do xâm lăng miền Nam .

Vấn đề đã rõ ràng, nhưng người CS không nhận thức được điều đó. Họ vẫn coi hai cuộc chiến tranh là có chính nghĩa, và do đó đối với họ việc đảng CS cai trị đất nước là chính đáng. Có hai lý do khiến người CS không thể vứt bỏ cái hào quang chống Pháp chống Mỹ. Thứ nhất là lòng tự hào về tinh thần yêu nước và thứ hai là những quyền lợi vật chất họ được đền bù sau khi chiến tranh chấm dứt. Nhiều người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân. Có những cán binh năm sáu chục tuổi đảng vào sinh ra tử trong suốt hai cuộc chiến. Họ tự hào là đã chiến đấu cho Tổ Quốc chỉ bởi vì họ không thể tưởng tượng được rằng họ đã bị đảng CS lợi dụng. Còn sống sót được, họ ôm lấy sự tự hào đó. Đảng CS nhồi sọ họ rằng đuổi Mỹ, đuổi Pháp thống nhất Tổ Quốc là công lao của ho. Bây giờ nếu bảo họ phải vứt bỏ cái hào quang đó đi thì họ chẳng còn lại được cái gì. Họ không dễ dàng chấp nhận mình trở thành trần trụi. Họ không thể phủ định được chính mình, kể cả những người được gọi là phản tỉnh. Hơn nữa trên thực tế công lao đó của họ cũng đã được đảng đền bù. Tất cả mọi đảng viên đều được đảng đãi ngộ sau chiến tranh. Lớp trẻ đang cầm quyền thì nắm các chức vụ béo bở trong guồng máy cai trị. Những cán bộ lão thành đều được cung cấp nhà cửa, lương hưu, và những tiện nghi sinh sống hàng ngày đầy đủ. Con cái của họ bảo đảm có công ăn việc làm tốt. Những quyền lợi vật chất kia đánh đổi bằng xương máu mới có được thì làm sao mà bỏ.

Nói tóm lại, việc khó nhất trong vấn đề HHHG là làm thế nào cho người CS hiểu được rằng họ đã bị HCM và đảng CS lợi dụng. Cái hào quang dành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ Quốc chi là hào quang dổm. Họ cần nhìn vào sự thật: HCM là một tên bán nước và đảng CS là một tập đoàn lính đánh thuê cho ngoại bang, trước kia là Liên Sô, bây giờ là Hán cộng.

IV. Cần Phải Xác Định Vấn Đề

1. Xác Định Chữ Dùng

Trước hết xin nói qua về cách dùng chữ thường thấy của người VN mình.

Người quốc gia kể cả những nhà hoạt động chính trị và người Mỹ nữa, thường rất hời hợt trong việc xử dụng chữ nghĩa, dù là trong trường hợp tự chứng minh chính mình (self identify). Đây là chuyện rất quan trọng. Chúng ta thường chê VGCS ít học, nhưng thực ra chúng rất tinh tường trong vấn đề dùng chữ. Để ý xem. Xưa nay VGCS luôn luôn gọi chính quyền miền Nam là “Nhà Cầm Quyền Saigon”, chứ không bao giờ nói “Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa”. Chúng gọi “Quân Đội Saigon ” thay vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và ngay như người Mỹ để giản tiện trong cách trao đổi, họ cũng thường nói “The Government Troups” chứ rất ít khi nói đầy đủ danh xưng của nó là “The Republic of VN Armed Forces”. Và còn rất nhiều như thế nữa ….. Cũng vậy, các chánh khách, nhất là các nhà báo của ta xưa nay thường sử dụng tưới xượi bất kể chữ nghĩa gì. Sự buông thả lời ăn tiếng nói này là tính hời hợt cố hữu của người quốc gia và là sự cố tình của VGCS muốn xóa đi cái căn cước nhân dạng (identity) của Việt Nam Cộng Hòa và của từng người dân của đất nước này.

Bây giờ cũng không khác xưa là mấy, chỉ có người tỵ nạn tại hải ngoại mới đặt ra vấn đề và gọi nó là HHHG. VGCS và báo chí trong nước của chúng không bao giờ nói đến mấy chữ đó. Bao hàm trong ý nghĩa gần như thế, chính thức bọn lãnh đạo Hànội chỉ kêu gọi xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ, hướng về tương lai v.v. Những chữ HHHG là do cộng sản miền Bắc đẻ ra cho nhóm người tự gọi là Thành Phần Thứ 3 tại miền Nam xài trong thời chiến tranh. Bẵng đi một thời gian. Mấy lúc gần đây lại thấy nó xuất hiện tại hải ngoại. Có một lần hồi mấy năm về trước, Võ Văn Kiệt sau khi đã không còn làm thủ tướng nữa mới hô hào nhà nước của y cũng nên đặt ra vấn đề hòa hợp với những người thuộc chế độ cũ để họ có cơ hội góp phần vào công việc xây dựng và phát triển đất nước. Kiệt chỉ nói hòa hợp chứ không nói hòa giải, nói người của chế độ cũ chứ không nói quân nhân công chức VNCH. Rõ ràng là VGCS vẫn còn đội cái mũ “ngụy quyền” trên đầu chính phủ VHCH đã đi vào lịch sử và vẫn tròng một chữ “ngụy” vào cổ của tất cả mọi người dân miền Nam . Như thế thì làm sao mà HHHG? Người miền Nam có thua trận nhưng không thể mất danh dự. VGCS đã không chủ trương và cũng không đặt ra vấn đề hòa giải với người Việt miền Nam , nhất là với đồng bào tỵ nạn tại hải ngoại. Thay vào đó, bộ máy tuyên truyền của đảng VGCS chỉ mập mờ đánh trống thổi kèn rùm beng một số xảo ngữ ru ngủ như xoá bỏ hận thù, quên đi quá khứ, hướng về tương lai, xóa ngăn cách v.v., rồi được bọn truyền thông lưu manh, mấy cái ống loa nối dài của CS tại hải ngoại phụ họa như những con vẹt. Điều đó cho thấy CS không hề có một chút thực tâm nào trong việc hoà giải, mà chỉ là trò bịp nhắm mục đích chiêu dụ người tỵ nạn đầu hàng mà thôi. Tự đặt ra chuyện HHHG với CS một cách đơn phương, những người chủ trương đã tự lừa dối mình và lừa dối người khác một cách trơ trẽn và lố bịch. VGCS xem ra cũng chẳng mặn mà gì, nhưng trong bụng chắc chúng cười khinh bỉ.

2. Xác Định Liên Hệ

Nói HHHG là nói cho suông miệng. Thật ra nó bao gồm hai tiến trình trước sau riêng biệt. Cả hai liên hệ nhân quả với nhau. Phải hoà giải trước đã rồi mới hoà hợp được. Không thể nào có hoà hợp được trong khi sự chia rẽ và bất hoà chưa bị tiêu trừ. Hoà giải là giải quyết sự bất hoà giữa hai hay nhiều đối tượng của bất hoà. Còn hoà hợp đơn giản chỉ là sự chung sống nhịp nhàng và hài hòa giũa con người với nhau. Nếu nói rằng có hoà hợp là đã có hoà giải rồi, và ngược lại, có hoà giải là tất có hoà hợp thì thật là hồ đồ và thiển cận. Đành rằng hoà giải dễ đưa đến sự hoà hợp, nhưng rất nhiều trường hợp có hoà hợp mà không hề có hoà giải, đặc biệt là trong lãnh vực chính tri. Chính phủ Liên Hiệp năm 1946 là một điển hình hoà hợp nhưng không hoà giải. Câu thường nói “tiểu nhân đồng nhi bất hòa” chỉ vào trường hợp này. Như trên vừa nói, chữ hòa giải có nghĩa là bỏ đi những chia rẽ, xung đột. Vậy nếu VGCS chịu ngồi xuống nói chuyện hòa giải với người quốc gia thì đó có nghĩa là chúng đã chịu bỏ đi những hiềm khích ngày trước, và chịu chấp nhận đa nguyên đa đảng. Hiện nay chưa có chỉ dấu nào cho thấy VGCS chịu nghiêm chỉnh chấp nhận làm chuyên đó.

Lịch sử Dân Tộc từ thời lập quốc đến nay, chưa bao giờ xẩy ra sự bất hoà trầm trọng nào giữa các thành phần dân chúng, bất kể là bất hòa về chính kiến, tôn giáo hay chủng tộc. Thời phong kiến, khi đất nước gặp phải một ông vua hôn quân và triều đình thối nát thì dân chúng bất bình nổi lên làm loạn. Ngày nay, tình trạng bất bình xẩy ra giữa nhà cầm quyền và dân chúng, hoặc giữa các đảng phái với nhau. Tuyệt nhiên không có sự bất hòa giữa người dân với người dân. Duy nhất một trường hợp hãn hữu có thể trở thành sự thật là có nhiều người lo ngại hiện nay đang âm ỉ một tình trạng xung đột giữa các thành phần dân chúng tại miền Nam . Vấn đề này là do chính sách di dân vô tổ chức của đảng VGCS gây ra. Sau ngày 30-4-75, để đề phòng sự nổi dậy của người miền Nam , CS ào ạt đưa cán bộ, đồng thời thả lỏng cho dân chúng miền Bắc di cư vào Nam không có một kế hoạch nào cả. Lớp di cư 75 (tiếng miền Nam) này, cán bộ cũng như dân, như một đàn chó đói, vừa thiếu ăn, lại giỏi lăn lộn xông xáo nên chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm gần hết những nguồn lợi kinh tế của miền Nam. Sự thực này đã đưa đến sự bất mãn không tránh khỏi trong dân chúng tại miền Nam , và là đầu giây mối nhợ gây nên làn sóng dân oan hiện nay. VC chiếm miền Nam thực tế không phải là một cuộc giải phóng, mà là một cuộc xâm lăng hoàn toàn đúng nghĩa. Cán bộ CS vào miền Nam là những ông quan thực dân tân thời. Cái gì thích thì chiếm đoạt, kể cả đàn bà con gái, mà cái thích của bọn người này thì vô cùng tận. Đây là chính sách rất thâm độc của bọn đầu lãnh ngoài Hànội. Sự thể cho thấy đảng CS chính là nguyên nhân gây ra mối bất hoà giữa các tầng lớp dân chúng VN. Sự cai trị độc tài, độc đoán của đảng CS dựa trên một mớ lý thuyết phi dân tộc là nguồn gốc gây ra mọi tranh chấp, mọi thảm họa của đất nước, đưa quốc gia đến tình trạng lạc hậu, thoái hoá, bất công và mất tự do như hiện nay. Như thế đặt cho đúng vấn đề HHHG là phải nói hoà giải giữa nhân dân VN và đảng CSVN với khoảng gần 3 triệu đảng viên, chứ tuyệt nhiên không phải giữa người dân với nhau. Thật là sai lầm nếu nói hoà giải dân tộc theo ý nghĩa là hoà giải giữa các thành phần dân chúng bị CS cai trị. Những thành phần dân tộc này giữa họ với nhau không hề làm gì có chuyện bất hoà để phải kêu gọi họ hoà giải. Do đó, đặt ra vấn đề Hòa Giải Dân Tộc là không hợp lý. Chữ Dân Tộc đi theo sau nhóm từ HHHG là không cần thiết.

Đành rằng cần phải có sự hoà giải giữa các thành phần dân tộc thì công việc xây dựng và phát triển đất nước mới thành công được. Vấn đề HHHG thực sự cần thiết, nhưng ai là người có trách nhiệm phải đặt ra vấn đề HHHG? Hiện nay CS là một đảng cầm quyền và độc bá quyền lực nên việc HHHG phải do đảng CS đặt ra mới đúng. Vả lại như trên đã nói, đảng CS là nguyên nhân gây ra những mối bất hoà trong dân chúng, nên đảng CS mới thật sự là người có bổn phận xin hòa giải và xin lỗi với toàn dân. Người dân bị trị xin hoà giải với chánh quyền đang cai trị mình là một điều thậm phi lý. Họ có làm gì sai quấy hay xúc phạm đến nhà cầm quyền đâu mà phải cầu hòa và xin tha thứ. Nếu đảng CS muốn hoà giải thực sự thì điều kiện cần thiết là họ phải thành tâm. Không thể vừa nói quên đi quá khứ vừa ban hành Nghị Quyết 36. Đó la lưu manh bịp bợm. VGCS cũng không được giải tư Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và giao cho vài ba tư nhân muốn làm gì thì làm. Làm như thế cũng chỉ là bịp bợm. Nghĩa Trang này vừa là tài sản quốc gia, vừa là di tích lịch sử. Nó phải được tôn trọng. Nếu VGCS thực tâm muốn hòa giải với những người đã cầm súng chống lại mình, thì chúng phải giữ nguyên trạng Nghĩa Trang này, và bảo quản cho tử tế, hoặc giao lại cho các đoàn thể, tổ chức cựu quân nhân QLVNCH để tỏ ra thiện chí. VGCS vừa hô hào xoá bỏ thù hận, vừa đốc xúi chánh phủ Mã Lai và Indonesia phá bỏ đài kỷ niệm vượt biên. Đây rõ ràng là gây thêm thù hận. Đảng CS phải ý thức rõ điều đó. Khẳng định là nếu không có thành tâm hòa giải, cho dù có đạt được một hình thức hòa hợp nào đó, kết quả cũng chỉ là đám bọt xà phòng trong không khí.

3. Xác Định Chính Mình

Mấy chữ HHHG xuất hiện tại miền Nam với nhóm người tự xưng là thành phần thứ 3 khi cuộc chiến tới giai đoàn quyết liệt. Cũng vì nghe mấy chữ này êm tai quá nên Chính Quyền Hoa Kỳ, để rút lui mà không bị mất thể diện, đã thúc đấy Chính Phủ VNCH chấp nhận một chính phủ 3 thành phần gồm VNCH, VC (Mặt Trận Giải Phóng) và thành phần thứ 3. Cũng vì ham HHHG quá nên Dương Văn Minh nhất quyết phải làm tổng thống để đầu hàng VGCS. Các bên lâm chiến tại VN họp Hòa Đàm tại Ba Lê để giải quyết chiến tranh là khởi đầu một tiến trình hòa giải. Ba năm trời họp bàn là thời gian để người ta ngồi cãi nhau, phần lớn đều là những chuyện tầm phào, trong khi ngoài chiến trường súng vẫn nổ, người vẫn chết. Yếu tố quyết định hòa đàm không nằm trên bàn hội nghị, mà nằm ngoài chiến trường tại VN và trên các đường phố của nước Mỹ. Sự thể cho thấy trong chính trị, sự hòa giải không đem đến từ hảo tâm, từ lòng trắc ẩn hay nhân đạo của con người, và cũng không phát xuất từ sự tử tế của bất cứ ai, mà chỉ là chuyện mặc cả, đổi chác theo nguyên lý mạnh được yếu thua. Khổ lụy con người và chết chóc là cái giá để bọn người được đặc quyền sống và quyền thụ hưởng trao đổi với nhau.

Hiện nay, các nhà chính trị, các đảng phái ở hải ngoai muốn HHHG với VGCS để trở về xây dựng đất nước. Lý tưởng đấy. Nhưng họ có cái gì để trả giá với VGCS? Lòng yêu nước chăng? Đối vói VGCS chỉ là thứ đồ bỏ. Tình đồng bào chăng? Đó là thứ hàng xa xỉ. Hay mượn oai hùm của người Mỹ? Cũng không phải là cái gì quí báu. Thật sư thì món đồ này VGCS càng không thiếu. Sự ủng hộ của quần chúng cũng không. Tiền bạc thì kể như tay trắng. Rõ ràng là các đảng phái chính trị ở đây chẳng có cái gì làm giá để mà thương lượng hòa giải với CS. Muốn ép lại không có lực. Kêu gọi suông, VGCS nghe sao?

Các lãnh tụ chính trị của chúng ta ngày trước đã không tiên đoán ra rằng vũ khí chống cộng hữu hiệu nhất là đồng tiền và sự đoàn kết trong cộng đồng chứ không phải khẩu súng. Ba mươi năm về trước, tập thể người Việt tỵ nạn đầu tiên có được hai lợi thế. Thứ nhất đa số họ là thành phần ưu tú nhất của đất nước. Thứ hai, đồng bào rất đoàn kết, khí thế cao, nhiệt huyết có thừa. Tập thể này chỉ thiếu một lãnh tụ thực tâm yêu nước, mưu lược và có viễn kiến. Vào lúc đó chỉ có ông Hoàng Cơ Minh đứng lên phất ngọn cờ lãnh đạo. Nhưng thay vì lãnh đạo, sự bất tài, thiển cận và độc đoán của ông đã làm thui chột đi những mầm non có năng khiếu về sau. Thay vì khua chiêng đánh trống tổ chức kháng chiến bịp, ông ta nên qui tụ đồng bào, đề ra một chương trình khuyến học qui mô trong cộng đồng vừa để đào tạo nhân tài cho tương lai, vừa hun đúc lòng yêu nước cho các thế hệ sau này. Thay vì thu tiền lập chiến khu ma, ông cần đề ra kế hoạch đóng góp để mỗi trung tâm tỵ nạn xây cất lấy một ngôi đình làng làm nơi sinh hoạt chung cho cộng đồng để tạo tinh thần đoàn kết. Khi người Mỹ còn đang bị choáng váng vì cuộc thất trận, họ rất quan tâm đến vấn đề tỵ nạn và sẵn sàng giúp đỡ chúng ta. Thay vì xua lũ âm binh đông tiến, ông phải nghĩ đến việc vận động thúc đẩy Quốc Hội Mỹ ban hành luật cấm người tỵ nạn du lịch và gởi tiền về VN, phát động một cuộc embargo và boycott nội bộ trong cộng đồng đối với VGCS khi chúng bắt đầu thi hành chính sách mở cửa. Nếu chận được 5 tỷ dollars tiền viện trợ không bồi hoàn của người tỵ nạn đổ vào VN hàng năm (chưa kể số tiền khổng lồ không đếm được người tỵ nạm đem về xài khi về du lịch), và nếu làm được cho hàng tỷ bạc hàng xuất khẩu của VGCS phải đổ đi, thì ai xin HHHG với ai sẽ biết. Làm được như thế thì trước hết cán bộ CS nằm vùng sẽ không thể ngóc đầu lên nổi để quấy phá. Thứ hai, cái thế HHHG sẽ đổi chiều, nghĩa là VGCS cầu được hòa giải với người tỵ nạn hơn là người tỵ nạn phải xin hòa giải với VGCS. Thực tế trước mắt cho thấy chính quyền tại lục địa phải ve vãn lấy lòng người Tầu tứ xứ, mà không có chuyện người Trung Hoa tại hải ngoại phải qụy lụy bọn lãnh đạo Trung Nam Hải. Lý do một phần là vì cộng đồng người Trung Hoa có nhiều tiền bạc. Đặc biệt là các cộng đồng này gắn bó với nhau và đoàn kết hơn ta rất nhiều. Cái chúng ta còn có thể làm được lúc này là những người cương quyết chống cộng, còn ai hay người đó ngồi lại với nhau thành một tập thể có tổ chức và có lãnh đạo, cùng chung chí hướng và cùng chung hành động. Nếu không làm được như thế thì lịch sử ngày 30-4-1975 sẽ lại tái diễn là điều có thể tiên đoán trước được.

4. Cuối Cùng: Xác Định Phương Hướng

Có lẽ các nhà đấu tranh cho dân chủ tại VN và các đảng phái chính trị người Việt nên học hỏi người Mỹ cách họ giải quyết cuộc nội chiến (Civil War) của nước Mỹ để mà tìm ra phương thức áp dụng trong vấn đề bế tắc hiện nay của đất nước.

Từ đầu thập niên 1850, chính trường nước Mỹ luôn luôn cãi cọ nhau ì xèo về việc các tiểu bang miền Nam bành trướng chế độ nô lệ vào các vùng đất sở hữu của Liên Bang. Sự tranh cãi cuối cùng đưa đến việc ly khai của 7 tiểu bang miền Nam trước khi ông Abraham Lincoln của đảng Cộng Hòa nhậm chức Tổng Thống ngày 4-3-1861. Cuộc nội chiến hay còn gọi là chiến tranh Nam/ Bắc bắt đầu sau đó và kéo dài đúng 4 năm, từ tháng 9-1861 đến tháng 9-1865 khi đại tướng Robert Edward Lee của miền Nam chịu đầu hàng. Cuộc chiến đẫm máu nhất này của nước Mỹ làm thiệt mạng 620.000 binh sĩ, chưa kể thiệt hại về phía thường dân.

Có những nét giống nhau rất đặc biệt trong cuộc Nội Chiến Mỹ và chiến tranh VN như: cả hai đều là cuộc đối đầu giữa hai miền Nam và Bắc của đất nước. Cả hai đều đánh nhau vì một nguyên nhân là tội ác. Một bên gây tội ác. Một bên chống lại tội ác đó. Tội ác trong cuộc Nội Chiến Mỹ là chế độ nô lệ. Còn tội ác trong chiến tranh VN là chế độ CS. Tôi kể chế độ VGCS là tội ác căn cứ trên kết luận của cuốn Sách Đen nói rằng CS là một thảm hoạ lớn nhất cho con người trong thế kỷ 20, và đựa vào Nghị Quyết của Quốc Hội Âu Châu lên án chủ nghĩa CS là tội ác chống nhân loại. Cũng có một điểm rất giống nhau về hình thức, nhưng lại hoàn toàn khác hẳn về mục đích. Cuộc chiến Nam-Bắc Mỹ thật sự là một cuộc nội chiến. Người dân Mỹ giữa hai miền Nam-Bắc xử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề của đất nước. Trong khi tại VN, bọn VGCS thi hành một cuộc chiến ủy nhiệm. Nói rõ hơn là VGCS theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế CS gây chiến nhằm tiêu diệt người Quốc Gia để thôn tính lãnh thổ cho đế quốc Liên Sô. Còn về điểm khác biệt giữa hai cuộc chiến, như chúng ta thấy, đó chính là hệ quả tạo ra từ mỗi cuộc chiến tranh. Cuộc Nội Chiến của nước Mỹ cụ thể đã đem lại liên tiếp 3 Tu Chính quan trọng cho Hiến Pháp của Hoa Kỳ. Thứ nhất là Tu Chính thứ 13 bãi bỏ chế độ nô lệ trong cả nước. Thứ hai, Tu Chính 14 công nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi công dân. Và thứ ba, Tu Chính 15 bãi bỏ việc hạn chế đầu phiếu theo sắc tộc. Nói khác đi là xác lập quyền đầu phiếu cho mọi công dân không phân biệt mầu da. Sau cuộc chiến, trên bình diện pháp lý, mọi công dân Mỹ không phân biệt đen, trắng, đều được chung hưởng tự do dân chủ và quyền bình đẳng trước pháp luật. Đây là nền tảng pháp lý vững chắc cho việc phát triển một nước Mỹ giầu mạnh và văn minh như chúng ta thấy ngày nay. Chế độ nô lệ bị coi là một tội ác vì nó xúc phạm nhân vị con người. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ là một cuộc chiến tranh chống tội ác và đã thắng lợi. Kết luận về cuộc Nội Chiến của nước Mỹ, TT Abraham Lincoln nói: Civil War brought to America a new birth of freedom (cuộc nội chiến đã khai sanh ra một nền tự do mới cho nước Mỹ).

Cuộc chiến tranh VN diễn ra như thế nào tôi xin khỏi trình bầy ở đây. Còn như những hậu quả của chiến tranh VN thì xin không nói nhiều, chỉ cần thu tóm trong mấy chữ thôi là đủ: tù đầy, hoàn toàn đổ nát, và không phải là thiếu chết chóc. Tôi muốn nhấn mạnh đến những sự sụp đổ về mặt tâm lý và tình cảm con người, về truyền thống lễ giáo và văn hóa dân tộc, về nền giáo dục gia đình và phong tục tập quán xã hội. Ai không tin xin cứ về (hay đến) ở VN một ít ngày thôi là sẽ thấy. Những nét đẹp quê hương này đã mất đi và chắc chắn không bao giờ có thể tìm lại được nữa. Chỉ có nền kinh tế xem ra có phần phục hồi lại được chút ít, nhưng lại gây ra khoảng cách giầu nghèo quá chênh lệnh tạo nên tình trạng bất ổn xã hội thường trực, ảnh hưởng không ít đến việc phát triển đất nước và hạnh phúc của người dân. Thử đọc một trích đoạn ngắn mô tả về tình hình kinh tế tại VN hiện nay của Tiến sĩ Trần Minh Hoàng để biết: “Không thoát khỏi qui luật, nền kinh tế của Việt Nam với những biến động nhanh chóng và dồn dập thời gian gần đây, chỉ trong vòng 1 tháng, nhất là sau tết Mậu Tý. Từ việc giá cả tăng cao đột biến, với mức giá tiêu dùng sinh hoạt của chợ búa, thịt cá rau cải … tăng trung bình là 50% ; giá bất động sản nhà đất tăng gấp 3 lần ( có nơi lên đến 7.000 USD/m2 sàn sử dụng ), giá vàng lên cao trên 18 triệu 200 ngàn/ lượng. Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng lên đến mức chóng mặt từ hơn 10% năm đã lên đến trên 40% năm”(Ts Trần Minh Hoàng: 2008 khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng chính trị ở Việt Nam ). Với mức phát triển kinh tế trung bình 8.5%, trong khi mọi thứ trên thị trường tăng từ 10% đến 50%, thử hỏi kinh tế VN là cái gì, đi lên hay đi xuống? Trong tình trạng đó, các đảng viên, các chủ xí nghiệp sản xuất, các nhà buôn, các người cung cấp dịch vụ đâu có thiệt hại gì. Tất cả hậu quả đều đổ lên đầu người tiêu thụ. Đồng tiền từ hầu bao người nghèo vẫn ào ào chẩy vào túi những người giầu có. Sự chênh lệch giầu nghèo càng ngày càng kéo dài thêm ra. Theo thống kê của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc ngày 27-8-2007 thì 20% dân số các gia đình giầu có được hưởng 40% các phúc lợi xã hội, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ nhận được 7%. Một báo cáo khác cho biết 20% người giầu có nhất hưởng 47% các khoản trợ cấp, trong lúc đó chỉ có 2% những người cùng khổ nhận được. Thêm vào đó 20% những người giầu có nhất so với 15% những người nghèo khó nhất được hưởng các trợ giúp sức khỏe. Báo The Economist thống kê lợi tức đầu người VN là 555 USD năm 2007. Con số này nếu là đáng tin tưởng thì cũng nên hiểu cho đúng với thực tế của tình hình VN. Giới giầu có ước tính là khoảng từ 3 – 5% với lợi tức hàng chục triệu USD, trong khi 95% người nghèo chỉ kiếm được trung bình 1 dollar/ngày. Tóm lại một số rất ít người giầu thì cực giầu, còn lại đại đa số nghèo thì cực nghèo. Một người bạn mới từ VN trở về Mỹ, anh ta làm một cuộc khảo sát bỏ túi khá sâu rộng trên khắp cả ba miền VN bằng mắt thấy tai nghe đã đưa ra một kết luận như sau: có đến 75% dân chúng VN từ nghèo đến nghèo mạt rệp (tức cùng cực). Trên 20% từ đủ ăn đến khá giả (có chút đỉnh dư ra). Khoảng 3% còn lại gồm đại đa số đảng viên, thân nhân của họ, và những thành phần móc ngoặc làm ăn với cán bộ là thành phần giầu có, từ triệu phú đến tỷ phú dollar. Sự mất quân bình xã hội này những người dễ tính nhất cũng không thể chịu đựng nổi. Như vậy kinh tế VN quả có đi lên và bay lên theo nhịp độ thần tốc với một nhóm nhỏ rất ít, nhưng lại đi xuống, tuột dốc không phanh (thắng) với đại đa số quần chúng. Đó là kết luận đúng nhất về tình hình phát triển kinh tế và xã hội VN.

Nhìn vào các hệ quả của hai cuộc chiến tranh cách nhau đúng một thế kỷ tại Hoa Kỳ trước kia và tại VN gần đây, luận theo đạo lý đông phương thì chỉ khi cái thiện tiêu diệt được cái ác, thành sự mới tốt đẹp và tương lai mới tươi sáng. Ngược lại, khi cái thiện bị cái ác tiêu diệt, sự dữ sẽ lan tràn. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ cho chúng ta một kết luận là để xây dựng và phát triển một đất nước, điều kiện tiên quyết là phải tiêu diệt sạch mầm mống của tội ác phản lại con người trên đất nước đó. Kinh nghiệm của nước Mỹ phải là điều xác định ưu tiên hàng đầu nếu nhân dân VN muốn nói đến vấn đề HHHG hay chung sống đa đảng với CS trên đất nước mình.

Kết Luận

Đã nói đến chuyện hòa giải tức là phải nhìn nhận rằng cuộc xung đột vẫn còn tồn tại. Nếu quan niệm rằng cuộc chiến VN chưa kết thúc, mà mới chỉ chấm dứt một giai đoạn thì vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải làm thế nào để kết thúc nó. Tiêu diệt hoàn toàn tội ác CS tức xóa bỏ hẳn chủ nghĩa CS, hay hòa giải và hòa hợp với nó để cùng tồn tại? Trở lại với vấn đề của nước Mỹ, một trăm năm trước, nếu hai miền Nam Bắc Hoa Kỳ thỏa hiệp để cho chế độ nô lệ tồn tại thì thử hỏi nước Mỹ có còn được là nước Mỹ ngày nay không? Chúng ta không thể hình dung ra được cái nó không xẩy ra, nhưng có một điều chắc chắn có thể tin được dù nó không xẩy ra, là nước Mỹ sẽ là một quốc gia lạc hậu và tệ hại nhất về mặt dân chủ và nhân quyền trên hành tinh này. Đó là điều khẳng định không thể nghi ngờ. Câu hỏi chúng tôi muốn gởi đến quí độc giả là HHHG hay dân chủ đa đảng cùng với sự có mặt của đảng CS với đầy đủ nanh vuốt tội ác của nó có phải là phương thức tốt nhất để giải quyết vấn đề của đất nước không?

Tháng 4 năm 2008

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_VanDeHoaHopVaHoaGiai.htm

November 18, 2009

Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam ngày 15/11/2009 tại San Francisco

P1: Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam ngày 15/11/2009 tại San Francisco

http://www.youtube.com/watch?v=msiY2CQENBA


P2: Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam ngày 15/11/2009 tại San Francisco

http://www.youtube.com/watch?v=4WLuLvnhDnY


P3: Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam ngày 15/11/2009 tại San Francisco

http://www.youtube.com/watch?v=beU_sMOI27c


P4: Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam ngày 15/11/2009 tại San Francisco

http://www.youtube.com/watch?v=TGbsC-Y2JmM


http://www.youtube.com/user/vietvungvinh

October 31, 2009

Lien Thanh ra mat sach “Bien Dong Mien Trung” o Sydney Uc

Lien Thanh ra mat sach “Bien Dong Mien Trung” o Sydney Uc

Hinh anh Buoi Phat Hanh Sach “BIEN DONG MIEN TRUNG” cua Tac Gia LIEN THANH tai Nha Hang HOA BINH so 58 Spencer St FAIRFILED NSW 2166 Sydney Uc Chau Thu Bay ngay 18-07-2009

Bien Dong Mien Trung Phan 1


Bien Dong Mien Trung Phan 2


Bien Dong Mien Trung Phan 3


Bien Dong Mien Trung Phan 4


Bien Dong Mien Trung Phan 5


Bien Dong Mien Trung Phan 6


Bien Dong Mien Trung Phan 7


Bien Dong Mien Trung Phan 8


Bien Dong Mien Trung Phan 9


Bien Dong Mien Trung Phan 10


Bien Dong Mien Trung Phan 11


Bien Dong Mien Trung Phan 12


Bien Dong Mien Trung Phan 13


Bien Dong Mien Trung Phan 14


http://www.youtube.com/user/MrPhamhuuthanh

Đường giây Mafia Việt tại Ba lan

duong-day-mafia-viet-tai-balan

Đường giây Mafia Việt tại Ba lan

Chủ Nhật vừa qua 25.10.2009 chương trình Đài truyền hình nước Đức có truyền phát một phóng sự về cộng động người Việt tại Ba Lan. Đây là một trong hai Đài truyền hình (quốc gia) có thể nói là nghiêm túc. Phóng sự nói về sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại Ba Lan, hầu hết là di dân từ Miền Bắc. Cách sống và cách xử sự với nhau thật kinh khủng. Những bí mật mà các nhà báo Ba lan thuật lại thật khó mà tin rằng chúng đã xẩy ra như vậy… những chuyện động trời! Bài báo cũng tố cáo nhân viên Tòa Đại Sứ Cộng Sản Việt Nam tại Ba Lan có nhúng tay vào những tệ đoan và hành vi tội phạm được nêu ra.. .. Vì đồng tiền và lợi nhuận mà mất hết trái tim. Đây là bài tóm lượt về phóng sự. LCH đã chuyển dịch qua tiếng Việt để chúng ta cùng đọc và suy nghĩ:

* Sắc thái Việt trong lòng Warsaw – Ba Lan

Chúng tôi đang đứng tại Praga, một khu phố nghèo của Warsaw và nhìn lên những căn nhà chọc trời qua màng sương tháng Mười. Nơi đây, với vô số cần cẩu xây dựng, trong vòng vài tuần nữa sẽ mọc lên một sân đá banh cho giải bóng đá Âu châu sắp đến. Ngay cạnh bên, theo ngôn ngữ dân gian là khu Tiểu Việt Nam. Một khu chợ lớn bán đủ mọi thứ với giá rẻ. Thật thế, tất cả mọi thứ.

Dân Việt Nam là cộng đồng ngoại quốc đông đảo duy nhất. Họ kéo đến từng bầy. Ba Lan là đất hứa, bởi số đông là đồng bào Việt Nam đã từng sát cánh cùng với Phong trào Công đoàn Đoàn kết chống cộng. Đến hôm nay họ vẫn còn ấp ủ thực hiện được giấc mơ ấy trên xứ sở Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam của họ. Không ai biết được con số chính xác, nhưng có ít nhất 30.000 dân tị nạn người Việt trên Ba Lan, phần lớn bất hợp pháp. Chúng tôi biết đuợc cặn kẽ hơn từ một thành viên tranh đấu cho nhân quyền người Ba Lan thuộc hiệp hội “Tiếng nói tự do”, hiện đang công tác giúp đỡ số cư dân này.

* Robert Krzyszto thuộc hiệp hội “Tiếng nói tự do” kể rằng:

Đám cháy chợ Việt Nam Ba Lan

2009_10_30_Balan1

“Đấy là một cái bẫy: Cuộc hành trình đến Ba Lan được băng nhóm Mafia Việt Nam tổ chức. Dân tị nạn được đưa đến Moscow, chặng này không khó… Ở đây họ bị gom thu giấy tờ với chiêu bài, phải đi đóng thị thực nhập nội Ba Lan vào thông hành. Và tiếp theo họ được cho biết là có rắc rối, phải trả thêm 10.000 đến 15.000 $US Dollars. Một số tiền họ không thể có được, Thông hành bị giữ – họ đành phải chịu nợ để được đi tiếp đến Ba Lan. Một số nợ quá lớn và để trả nổi họ phải làm suốt đời. Dẫu họ có trúng số độc đắc đi chăng nữa, đám Mafia đòi nợ vẫn sẽ hàng tháng đến nhà gõ cửa.

Thật rất khó khăn mới thâu được những hình ảnh khu chợ Việt Nam vào ống kính. Ai ai cũng e ngại chúng tôi, phần đông thấy may quay phim ai nấy đều bỏ chạy. Nhiều người sống ở đây đã nhiều năm vẫn không nói được một chữ Ba Lan. Chúng tôi làm quen với Ngan. Người phụ nữ 45 tuổi này hành nghề với một bếp ăn lưu động. Một ngày mới của cô ta bắt đầu từ 1 giờ đêm.

“Cách đây 9 năm tôi phải chạy trốn, vì sợ trả thù. Tôi không muốn kể nhiều hơn. Chồng và con còn ở lại Việt Nam. Tôi nhớ chồng con lắm nhưng phải làm việc bù đầu 17 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, tôi không còn thì giờ nghĩ đến nữa. Tôi kiếm không được nhiều, nhưng nếu tiết kiệm tôi có thể dư tiền để gọi điện mỗi tuần một lần về nhà. Giờ thì tôi phải đi bán hàng …”

2009_10_30_Balan2

Chúng tôi tháp tùng theo Ngan, nhưng chỉ vài phút sau phải bỏ ngang không quay tiếp. Bởi Ngan không bán được gì cả khi có mặt chúng tôi bên cạnh. Cô ta giận dỗi mắng: “Thôi cút đi, chỉ làm cản trở chuyện bán buôn”. Sau đó chúng tôi mới nắm hiểu vì sao dân tị nạn ở đây lo sợ và Tòa Đại sứ Việt Nam tại Warsaw khoác một vai trò tai tiếng bất hảo như thế nào. Chiều đến chúng tôi hẹn gặp tại ven ranh thành phố với một cảnh sát tình báo trách nhiệm điều tra trong khu vực cộng đồng người Việt..

“Họ sợ bọn Mafia. Đám doanh thương giầu có đem rất nhiều tiền từ Việt Nam sang đây để rửa. Họ mua hãng xưởng và đầu tư tại Ba Lan. Bọn họ có đường dây rất chặt chẽ với chính quyền Hà Nội và với Tòa Đại sứ Việt Nam tại Warsaw. Một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia”

Và với Mafia thì không đùa được. Đám tị nạn bất hợp pháp phải nộp tiền cho chủ, và tụi ấy có phương pháp riêng của chúng.

“Đám Việt Nam không bao giờ có văn bản hợp đồng. Lời nói là đủ. Khi một kẻ nào đó không trả tiền, sẽ bị bắt cóc và tra trấn cho đến khi phải xì tiền ra”. Một nhà báo Ba Lan đã mất hàng năm trường điều tra quyết phá vỡ bức tường im lặng này. Báo chí Ba Lan vừa rồi đã in bài tường thuật về những sự việc xảy ra trong chợ Việt Nam.

* Ton Leszek Szymowski, một nhà báo viết:

“Mỗi một con buôn trong chợ đều phải nộp thuế, đấy là nguyên tắc. Không cần biết anh buôn gì, giầy dép hoặc áo quần hoặc có một cửa hàng ăn uống, đều phải nộp thuế. Từ 100 đến 150 $ Dollars một tháng. Nếu không bọn hắn sẽ đốt cửa hàng anh. Chịu chi anh sẽ được bảo đảm an ninh, đối với mọi băng đảng”.

Trong bếp một tiệm ăn, một dân tị nạn phi pháp rút hết can đảm kể cho chúng tôi nghe một cuộc vượt trốn liều lĩnh. Cuộc hành trình của Nguyen từ Việt Nam đến Warsaw kéo dài hàng tháng trường.

“Thoạt tiên tôi muốn đi qua đường Moscow. Nhưng họ đề nghị tôi nên vượt rừng qua Trung hoa. Tôi tin nghe theo, sau đó phải ngồi mãi trên tàu lửa và rồi nằm trong một thùng carton trên một chiếc xe tải. Xe chạy đến Kiew/ Ukraine. Họ đưa chúng tôi đến biên giới Ba Lan – và khi không người canh giữ, xe vượt biên giới và chở chúng tôi đến chợ Việt Nam, tại đấy họ tống tôi ra khỏi xe và thả tôi chơ vơ giữa đường”.

Trả lời câu chúng tôi hỏi, người Việt sinh sống ở đâu. Anh ta trả lời đơn giản: “Chỉ cần một người mướn được đâu đó trong những chung cư cao ốc một căn hộ, sẽ kéo thêm mười người nữa vào. Mười một người sinh sống trên 12 thước vuông”.

“Tôi không hiện hữu, tôi ở ngoài vòng pháp luật. Công an chìm Việt Nam vẫn con theo dõi tôi đến tận Ba Lan. Họ vẫn hăm dọa khủng bố tôi. Vài ba ngày một lần họ ghé qua đây, hăm tôi không được hoạt động chống đối chính quyền. Và để dằn mặt họ quần tôi mỗi tháng một lần”.

Một số ít dân tị nạn đến theo đường bay từ Moscow, với giấy tờ giả. Một ngày có hai chuyến Aeroflot đáp xuống Warsaw. Những giấy thông hành quá giá trị đến mức dân tị nạn Việt Nam luôn luôn bất tử. Tại những nghĩa trang Ba Lan không hề có một nấm mồ của người Việt. Và điều này kiến Cảnh sát Ba Lan bức tai vò đầu bao năm nay.

* Dariusz Loranty, Cảnh sát Warsaw cho biết:

Dân Việt Nam sống mãi (nói không ai tin), nhưng thực tế chưa hề có đám ma chay hay tang lễ nào cà!. Trước đây vài năm, chúng tôi, Cảnh sát Warsaw, thật tình có phỏng đoán, đám người này họ ấy ăn thịt đồng loại chăng? (theo như tường thuật thì chưa có ai chết được chôn bao giờ). Ai rồi cũng phải chết và phải được an táng. Một hôm chúng tôi kiếm được một xác chết bị quẳng đâu đấy vào trong rừng ở ven ranh Warsaw, đám Mafia thủ tiêu xác chết và sử dụng tiếp giấy tờ. Rồi lại thêm một kẻ tị nạn nữa sẽ đến từ Việt Nam, mang tên họ của người đã chết mà không ai kiểm soát được. Và với chúng tôi thì người Việt nào cũng giống nhau, không phân biệt được.

Năm vừa qua chỉ có 800 người nộp đơn xin tị nạn chính trị tại Ba Lan, tất cả đều bị từ chối. Người Việt sống và bị đối xử phi nhân cách và một cách dã man. Nhưng vào thời điểm cuối cuộc tường trình chúng tôi nghe được một tin đồn kinh khủng.

* Robert Krzyszto, hiệp hội “Tiếng nói tự do” kể rằng:

Có một sự việc liên quan đến dân Việt ở đây, không có chứng cớ, nhưng có thật. Tôi muốn nói về việc buôn bán bộ phận thân thể con người. Bọn Mafia đem người qua Ba Lan và sử dụng họ như một kho lạnh biết đi. Những người trẻ và khỏe mạnh. Họ được phép đi lại một mình nhưng bị kiểm soát rất chặt chẽ. Những người này rồi sẽ bị giết và lấy đi những bộ phận thân thể… Mọi dấu tích sẽ được cẩn thận xóa sạch. Những con người đó sẽ biến mất, chỉ còn lại tin đồn. Chúng tôi không biết đã có bao nhiêu, nhưng nguồn tin này tuyệt đối khá tin cậy.

Đối với số 30.000 người Việt cư ngụ bất hợp pháp tại Ba Lan vùng đất hứa của họ phần lớn thật ra là một địa ngục trần gian. Bọn Mafia Việt Nam hành xử nhóm người này tùy thích. Ngay giữa lòng châu Âu.

(Nguồn: Weltspiegel am Sonntag ngày 25.10.2009, Tường thuật: Ulrich Adrian, LCH chuyển Việt ngữ)
LCH chuyễn ngữ

http://tinparis.net/vn_index.html

October 30, 2009

THỦ ĐOẠN TUNG HỎA MÙ CỦA VIỆT CỘNG – TRƯƠNG MINH HÒA (Tinparis.net)

viet-cong

THỦ ĐOẠN TUNG HỎA MÙ CỦA VIỆT CỘNG – TRƯƠNG MINH HÒA (Tinparis.net)

Thanh đông kích tây, là một trong Tam Thập Lục Kế, được áp dụng khá phổ biến trong các cuộc chiến, thương trường, chính trường, các cuộc vận động tranh cử…. Việt Cộng cũng thường dùng kế nầy để che đậy những” mặt yếu” hầu mua thời gian trong” trì hoãn kế”; đó là sách lược được coi là chủ yếu:” tạm thời lùi một bước để chuẩn bị ba bước tiến lên” của Việt Cộng, biến chuyển từ” thoái trào cách mạng” tạm thời và sau đó thành” cao trào cách mạng” khi thời cơ thuận tiện, chín mùi.

Sau những thất bại, hay tránh né thiệt hại, tình hình bất lợi….thì đảng siêu cướp Việt Cộng hay tung hỏa mù, đánh lạc hướng để dân chúng bớt lưu ý, hầu mua thời gian và khi đã hết cơn bỉ cực, đảng cướp nầy” thừa thắng xông lên” để dứt điểm; đó là lúc” cao trào cách mạng”, chúng hung hăng, chém giết, cướp bốc mạnh với chủ trương:” giết sạch, cướp sạch, vét sạch”. Sách lược của đảng cướp Cộng Sản lên xuống như” nước ròng, nước lớn”, nên cần lưu ý, khai thác lúc chúng suy yếu, bất lợi mà nhắm vào những yếu huyệt tấn công tới tắp, thì chúng càng lùi dần vào” thoái trào cách mạng”. Người dân ở Liên Sô, các nước Cộng Sản Đông Âu đã nương theo đà” thoái trào” của các đảng Cộng Sản, và cùng nhau xuống đường hành động và cuối cùng giật sập cả bộ máy cai trị của các đảng Cộng Sản hùng mạnh nhất trong khối, với hỏa tiễn, bom nguyên tử, xe bọc thép, Hồng Quân…hì hợm lúc diễn hành, biểu dương lực lương; chứ cái kiểu đấu tranh” biểu tình tại gia”, chủ trương” sáng tạo lẫn tối tạo” của huề thượng Thích Quảng Độ, hoặc là” dùng bất bạo động để tháo gở độc tài” của băng đảng” Con Chim không Cánh”, thoái thân của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, là không bao giờ có được tự do, dân chủ tại Việt Nam, trái lại giúp đảng cướp thêm vững mạnh để gây thêm tội ác.

Thời kỳ tranh tối tranh sáng, lúc tên quốc tặc Hồ Chí Minh, hết lòng phục vụ cho quan thầy Liên Sô, miệng thì hô hào yêu nước, lấy chiêu bài:” đánh Tây giành độc lập” nhằm thu hút những người quốc gia, các đảng phái vào trong một tổ chức chính phủ lâm thời; tên Hồ lợi dụng chức vụ chủ tịch, sang Pháp dự hội nghị ở Fontainbleau, thất bại, nhưng lại gõ cửa bộ trưởng thuộc địa Pháp là Marius Moulet lúc nữa đêm để bí mật cấu kết với thực dân qua hiệp ước sơ bộ Sainteny ngày 4 tháng 6 năm 1946 và tiếp theo là diễn biến tạm ước 15 tháng 9 năm 1946, mời thực dân Pháp sang cai trị lần nữa. Sự phản bội dân tộc nầy, được tên Việt gian Hồ Chí Minh nói rõ trong nội bộ đảng là:” liên kết với kẻ thù xa là thực dân Pháp để tiêu diệt kẻ thù gần là các đảng phái quốc gia”, nhằm củng cố thế lực của đảng, chớ nào” đánh Tây giành độc lập” như chúng tuyên truyền trên đầu môi chót lưỡi với dân chúng.

Hành vi gian manh, phản dân, hại nước của tên Hồ Chí Minh đã bị phát giác, các đảng phái quốc gia, người dân yêu nước phản ứng mạnh, dù Hồ ra lịnh cho lâu la học tập cách để đối phó, giải độc. Tạm ước nầy” phản ánh” sự phản bội đê hèn của tên Việt gian Hồ Chí Minh, với lời tuyên bố lếu láo tại quảng trường Ba Đình, ngày 2 tháng 9 năm 1945:” không có gì quí hơn độc lập tự do” là sự” phản ánh” hoàn toàn trái ngược. Tình hình bất lợi nầy, nếu càng để lâu thì nguy cơ bị dân chúng, các đảng phái quốc gia lật tẩy, do đó, tên Hồ Chí Minh đánh lạc hướng bằng cách ngụy tạo vụ án tại ngôi biệt thự số 9, đường Ôn Như Hầu, ở Hà Nội, là trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ngụy tạo bằng cách quăng vào khuôn viên vài xác chết vô thừa nhận ở bịnh viện và lấy cớ để tấn công, vừa đánh Việt Nam Quốc Dân Đảng và vừa đánh lạc hướng dư luận quần chúng, để che đậy vụ Hồ Chí Minh mời Pháp sang lần thứ hai.

Trong trận Điện Biên, cái gọi là” bộ đội già Hồ” đâu phải” mình đồng da sắt” nên lúc mới mở trận địa, rất nhiều” chiến sĩ ta” đã hủy hoại thân thể, đào ngũ….thấy tình hình không ổn, nhất là quan thầy Trung Cộng với phái bộ quân sư do Vi Quốc Thanh cầm đầu, đã tính toán số nhân mạng, yêu cầu đảng phải cung cấp để cần để áp đảo chiến trường qua chiến thuật” biển người”, nên Hồ Chí Minh ra lịnh học tập chính trị và tung ra những” anh hùng dỏm” để kích động lính không đào ngũ và đồng thời cũng cho đảng viện Cộng Sản dùng biện pháp khủng bố để giữ bộ đội bớt đào ngũ.

Sau khi thảm bại trận Tổng Công Kích tết Mậu Thân 1968, đảng Cộng Sản bưng bít và vừa tung ra nhiều đợt học tập chính trị để tránh né để chờ thời cơ chỉnh đốn hàng ngũ. Do đó, mỗi khi trong nước, Việt Cộng tung ra những đợt học tập, hấp lại tư tưởng dỏm của Hồ Chí Minh, vốn đã” lạc hậu, lỗi thời và phản động” khi vừa mới ban hành. Cho nên, việc tung hòa mù, đánh lạc hướng là” mặt mạnh cơ bản” của đảng Cộng Sản, song hành với biện pháp” vật tế thần” của đảng đã có từ thời Hồ còn sống, như việc cho tên đàn em thân tín là Trường Chinh sang Trung Cộng nằm xả hơi” bồi dưỡng” sau khi tàn sát hàng trăm ngàn người dân vô tội ở toàn nông thôn miền Bắc trong cuộc cải cách ruộng đất, mà thành phần nạn nhân mở rộng:” trí phú địa hào, đào tận gốc”. Thời sau 1975, đảng từng đem tên nhà thô, phó thủ tướng đặc trách kinh tế là Tố Hữu ra đấu tố, kiểm điểm làm cảnh để xoa dịu lòng bất mãn của dân, sau những chính sách” vơ vét” đánh tư sản, tập đoàn sản xuất…bị thất bại.

Ngày nay, đất nước bị đảng cướp Việt Cộng đưa vào vòng nô thuộc của Trung Cộng, làm theo lời dạy của tên Hồ Chí Minh:” thà mất nước, đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt”. Từ khi mối bang giao:” tình hữu NGỢM Việt-Trung nối lại” khắt khít như câu” môi hở răng lạnh”, sau khi quan thầy Liên Sô bị sụp đổ, nên từ 1992, nước Việt Nam càng bị xâm thực theo lối” tầm ăn dâu”, chiếm đảo, vùng đất, vùng biển rõ nét như” đêm giữa ban ngày”, nên tập đoàn đảng cướp Việt Cộng ngày nay trở thành:” quan thái thú Trung Cộng gốc Việt”, cửa khẩu Việt-Trung cũng” hữu ngợm” như câu” thời mất nước, ải thường mở cửa”, cho dân Tàu, tình báo, gián điệp, hàng hóa lậu, độc hại cứ tự do nhập vào, làm cho dân Việt Nam vừa nô thuộc Tàu và vừa giúp cho quan thầy tiêu thụ những mặt hàng ế, không thể bán được các nước khác.

Mất đảo, vùng đất, biên cương, bị Trung Cộng đặt” phủ chúa sứ quán” bên cạnh bộ máy đảng và nhà nước, chỉ đạo trực tiếp và xếp đặt quan cai trị trong đảng, từ chức tổng bí thư đến các chức vụ quan trọng như thủ tướng, chủ tịch nhà nước. Trung Cộng coi đất Việt Nam là thuộc địa, hay là một quận lỵ bất thành văn, nhưng bản chất hoàn toàn thuộc về Bắc Kinh, nên tự động mang quân vào đóng ở Tây nguyên, lấy danh nghĩa khai thác quặng Bô Xít, ngụy trang, đánh lạc hướng bằng chiêu bài” phát triển kinh tế”. Dân Việt Nam từ trong nước đến hải ngoại, đều biết rất rõ là Việt Nam đang bị Trung Cộng” đô hộ”, một hình thức Bắc thuộc” hiện đại, thời thượng”, làn sóng bất mãn ngầm càng phát triển, có khả năng nổi lên bất cứ lúc nào, như cơn sóng thần, cuốn trôi sạch tập đoàn” thái thú Trung Cộng gốc Việt”. Do đó, để đánh lạc hướng, trong thời gian gần đây, đảng cướp tung ra những hỏa mù như:

* 1-Trong nước:

1.1-Vận động toàn dân, đảng, học tập lại cái gọi là” tư tưởng bệ rạc Hồ Chí Minh”, chẳng có gì là mới, hay, vô địch, được chính tên Hồ nhìn nhận:” Bác không có sáng tạo gì, tất cả do ông Lenin, ông Mao làm cả..”. Học tập những điều lạc hậu, cũng không ngoài mục đích làm cho dân chúng bận rộn để không nghĩ đến thân phận đất nước bị Trung Cộng đô hộ. Cho nên, mỗi khi đảng Cộng khỉ Việt Nam bị dân chúng phản đối, bất mãn, thì họ thường mở chiến dịch học tập chính trị, xào đi nấu lại những lý luận cũ rít của chủ nghĩa Karl Marx, đã bị nhân loại vất vào sọt rác lịch sử từ khi Liên Sô và toàn khối Cộng Sản Đông Âu sụp đổ.

1.2-Đưa ra những con rối, giả vờ phản tỉnh, chống đảng để” xì hơi”, là chính sách đưa mục tiêu giả để dân chúng vin vào mà quên cảnh bị mất nước và tin tưởng những đảng viên thâm niên phục viên, trí thức, các khối đối kháng….có khả năng đánh đổ bạo quyền, không dùng bạo lực, thay vào là đường lối đấu tranh” bất bạo động”, thì làm gì có được một chính quyền dân cử?. Đảng viên hưu trí chống đảng viên tại chức, cứ thế mà” xây dựng, kiểm điểm nhau” từ năm nầy qua năm khác, nên cái” thời trang phản tỉnh” đã có từ thời Nguyễn Hộ, đến nay, hơn 2 thập niên, mà tình trạng nhân quyền, dân chủ vẫn” không thể đảo ngược được”. Đây cũng là một sách lược” tung hỏa mù” hiện đại, nên mỗi khi bị thế giới, nhất là Hoa Kỳ lên án tình trạng vi phạm nhân quyền, tôn giáo, ngôn luận…thì đảng Cộng Khỉ giả vờ bắt bớ những nhà phản tỉnh cò mồi để gây áp lực và biến” gà nhà” thành những con tin, khai thác khía cạnh nhân quyền của các nước vốn tôn trọng nhân quyền, đánh động lòng nhân, là” tương kế tựu kế” để gây áp lực các nước, sau khi thỏa mãn yêu sách, thì thả ra để được công nhận là:” Việt Nam có tiến bộ về tình trạng dân chủ và nhân quyền”, cứ thế mà” phát huy”, nhưng người dân Việt Nam không bao giờ có được những gì mà đảng Cộng khỉ cam kết, các nước dân chủ cũng không làm gì khác hơn là tiếp tục lên án Việt Cộng trong tinh thần ngoại giao bằng ngôn từ qua các phát ngôn viên, hay văn bản, đưa vào danh sách, chẳng bao giờ làm cho đảng cướp sợ, nếu không đánh trúng vào tử huyệt như: cấm vận kinh tế, ra những đạo luật cấm những người Việt tỵ nạn mang tiền về, du lịch, làm ăn, cắt đứt mọi viện trợ, kể cả nhân đạo, vì hầu hết những phẩm vật viện trợ, cũng đều được băng đảng cướp sử dụng tùy tiện, theo” định hướng xã hội chủ nghĩa…..

1.3-Chủ trương tạo giải trí, vui chơi như cá độ các cuộc tranh tài đá banh, để dân chúng đổ xô vào giải trí, ăn thua. Đây cũng là biện pháp mà thời thực dân Pháp từng áp dụng qua các cuộc” đấu xảo” hội chợ, thể thao. Lý do là những hình thức thi đua lao động để lập công dâng đảng vào các ngày lễ như 2 tháng 9, 19 tháng 5….hay các kỳ đại hội đảng, nay đã không còn hiệu nghiệm nữa. Ngoài ra dân chúng cũng chán ngấy giải trí qua các đoàn văn công, không có gì là sáng tạo cả. Để bù vào những hỏa mùa ấy, thì bộ thông tin văn hóa hay có những chương trình trình diễn thời trang, hoa hậu…..

1.4-Gần đây là vụ đấu đá quyết liệt ở Tu Viện Bát Nhả, mà cốt chuyện chỉ là sự tranh chấp” nội bộ” giữa hai cánh” quỷ vô thần” lấy chiêu bài và danh nghĩa Phật Giáo để làm lớn chuyện, gây chú ý giới Phật tử và người Việt trong, ngoài nước.

Trong tương lai, đảng cướp Cộng Sản tung ra thêm những hỏa mù khác, nếu nhận thấy tình hình dân chúng bất mãn càng cao, do biết được đất nước đang nằm trong vòng đô hộ của giặc Trung Cộng.

* 2- Hải ngoại:

2.1-Tổ chức cò mồi, núp bóng cờ vàng, tay quàng cờ máu, đáng lưu ý là tổ chức thoái thân của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh là băng đảng” Con Chim Không Cánh” dù chia hai phe nhưng có cùng một mục đích yêu cầu:” coi đảng Cộng Khỉ Việt Nam là thành phần dân tộc và tên quốc tặc, phản dân, hại nước Hồ Chí Minh là người có công với đất nước”.

Ở hải ngoại, tổ chức còi mồi nầy không thể dùng câu” chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc”, nên dùng lối nầy để đánh lừa những người nhẹ dạ, thiếu kinh nghiệm. Đảng Con Chim Không Cánh tung ra nhiều hỏa mù như: Diễn hành cho tự do, là hình thức” ăn mừng chiến thắng mùa xuân” của Việt Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975 ngay tại nơi mà Việt Cộng không thể công khai” diễn hành” ăn mừng chiến thắng thời cơ như” chó ngáp phải ruồi”. Lái cuộc đấu tranh chống lại mục tiêu chánh là đảng Cộng khỉ Việt Nam sang chống Trung Quốc. Mở các hội thảo, lập ra các tổ chức mang tên” bảo vệ bờ cõi, biên cương, đất tổ”, biến thành cuộc đấu tranh mang tính cách tiêu cực qua việc hội thảo, làm kiến nghị gởi Liên Hiệp Quốc, vận động chữ ký…là những hỏa mùa đấu tranh đúng như ý của Việt Cộng, qua chủ trương:” dùng bất bạo động để tháo gở độc tài”.

2.2-Thành lập các cơ quan truyền thông hai hàng, xanh vỏ đỏ lòng: với những bài viết lập lờ, gây hoang mang, và thường chuyên chở các bài viết do những người trong nước, chỉ chống tham nhũng mà làm nhẹ bớt tội ác của Việt Cộng.

Do đó, những bài viết nầy như là mục tiêu giả, khiêu khích, nếu không nắm vững những sách lược tung hỏa mù của Việt Cộng, thì người quốc gia dễ bị phân tâm, lôi cuốn vào những bài viết lập lờ, mà bỏ ngỏ bọn giặc Cộng chung quanh, đang rình rập, tuyên truyền, thò bàn tay lông lá chụp lấy những mầm non, tài năng chất xám, con cháu của người tỵ nạn để lừa đảo và dùng thành phần nầy để chống lại ông cha, sau khi bị lừa là: trở về xây dựng đất nước, cùng nhau đoàn kết chống Trung Cộng.

2.3-Những tổ chức từ thiện, với nhiều danh nghĩa, được thực hiện, nhằm thu tiền về giúp đảng, làm dùm những công việc mà đảng phải làm và đồng thời biến người hải ngoại trở thành tập thể” Mạnh Thường Quân” móc túi thường trực, nên bận rộn lo làm điều tốt mà quên hay bị đánh lạc hướng trước cảnh đất nước đang điêu linh, dân tộc bị đọa đày dưới gông cùm Bắc Thuộc, do bọn Thái Thú ở Bắc Bộ Phủ cai trị.

2.4-Gây phân hóa các tổ chức, tìm cách xé những tổ chức quan trọng như Cộng Đồng Người Việt Tự Do thành hai, ba hội càng đạt mục đích yêu cầu. Do đó, hiện tượng một vái nơi đã có 2 ban đại diện cộng đồng, không hòa thuận nhau, hay tranh chấp từng buổi lễ, hội chợ tết…Hội cựu quân nhân, là tổ chức khá qui cũ, sinh hoạt từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tuy nhiên từ năm 2003, băng đảng Con Chim Không Cánh đã lợi dụng một vài tướng tá, sĩ quan để thành lập ra cái gọi là Tập thể Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nên từ đó, rạn nứt thêm, nhất là các sinh hoạt trong các ngày lễ hội như quân lực 19 tháng 6 hàng năm, được tổ chức hai nơi, khiến các quân nhân không biết phải tham gia hội nào?.

Do đó, việc nhắm vào mục tiêu chánh là bọn Việt Cộng đang trà trộn xung quanh ở hải ngoại, chúng càng ngày càng xâm nhập qua việc lơi dụng chính sách di trú các nước dân chủ, để sang theo nhiều diện: du học, hôn phối, tu sĩ, tay nghề, thương mại…và những tổ chức” tay cầm cờ vàng, lưng mang cờ máu” như băng đảng Con Chim Không Cánh….là kẻ thù rất nguy hiểm, chúng đang tam cùng: cùng sinh hoạt trong cộng đồng, cùng chào cờ vàng, hát quốc ca và cùng hô hào đầu tranh chống Cộng.

Nhưng chúng tìm đủ mọi cách để lái cuộc đấu tranh sang” mục tiêu giả” là chống Trung Cộng, bảo toàn bờ cõi bằng mồm, hội thảo, lấy chữ ký…lái sang đấu tranh” nghị trường” không tưởng, là hỏa mù chỉ có thể thực hiện tại các nước dân chủ, trong đó” dùng đấu tranh bất bạo động để tháo gở độc tài” là giúp cho đảng Cộng Sản thêm bền vững, càng giảm nguy cơ bị dân chúng đứng lên lật đổ như ở Nga, Đông Âu. Gần đây, huề thượng Quảng Độ đã tung ra mục tiêu giả” biểu tình tại gia” và lòi ra hết những tổ chức, cá nhân, dính dáng tới” hỏa mùa” do Việt Cộng tung ra ở hải ngoại, trong đó, ngoài băng đảng Con Chim Không Cánh, một số tay to mặt lớn u mê và cái phòng Thông Tin Ta Bà Thế Giới của cư sĩ Võ Văn Ái..cũng không thể tiếp tục thả thêm khói mù nữa. Kẻ thù trước mắt chính là những tổ chức đấu tranh cò mồi như băng đảng Con Chim Không Cánh và các hội đoàn râu ria. Nếu không nhận thức rõ ràng đâu là mục tiêu chánh, đâu là mục tiêu giả, thì công cuộc đấu tranh từ trong nước, đến sự an bình hải ngoại bị lái trật mục tiêu là: chống Trung Cộng, bị lôi cuốn và quỷ đạo của các cuộc đấu đá quyền lực giữa các phe phái trong đảng cướp Việt Cộng../.

Trương Minh Hòa
30.10.2009

* PHỤ LỤC . NHỮNG ỨNG VIÊN GIẢI NOBEL 2010.

Trong tháng 10 năm 2009, kết quả giải Nobel đã làm thất vọng những người luôn nuôi hy vọng, từng là ứng viên” trường kỳ” và được băng đảng Con Chim Không Cánh, các tổ chức râu ria, đặt kỳ vọng, nhốn nháo trước ngày bình chọn và xìu sau khi công bố kết quả. Những ứng viên” sáng giá” đối với những người đề cử, nhưng lại” tối giá” với Ủy Ban bình chọn ở Na Uy. Chắc Chắn là ủy ban đã biết rõ từng ứng viên nên đã không chấm những người Việt Nam được đánh giá là có thể chiếm giải. Do đó, bài học” thất bại là mẹ thành công” và” bankrupt là ông cố nội của sạt nghiệp”, nên cần phải kiên trì, cố công mài sắt có ngày nên kim:

” Ai đề cữ giải Nobel mà không hụt.?
Ai ứng viên mà chẳng được chấm bao giờ?
Dậy mà đi, dậy mà đi..”

Ứng viên giải Nobel hòa bình” trường kỳ” từ 4 năm qua là huề thượng Thích Quảng Độ, vốn là tu sĩ khối Ấn Quang, thành tích vượt không gian và thời gian là từng tiếp tay phá hoại hòa bình trong thời kỳ quấy rối ở miền Nam trước 1975, có quan hệ hữu cơ với phía bên kia, được ghi nhận là ở Gò Dầu Hạ, Tây Ninh. Ứng viên Quảng Độ có sáng kiến thật độc đáo là:” biểu tình tại gia” và” bất tuân dân sự”, là sáng kiến giúp cho đảng độc tài đỡ hao tốn công quỷ, hơi sức để đàn áp biểu tình. Tức là không ai biểu tình là đã có hòa bình theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngay, giúp dân khỏi bị đàn áp, bắt bớ. Bất tuân dân sự là sáng kiến giúp cho các côn ty, chủ nhân đuổi bớt người mà không gây” bất mãn” đưa đến bạo động, vì người ta tự ý nghỉ làm, chớ có ai đuổi đâu, giúp cho các chủ nhân vượt qua cơn suy trầm, khủng hoảng kinh tế. Trước đây, có ứng viên Thích Nhất Hạnh, nhưng năm nay không nghe tăm hơi, chắc là đang bận rộn vụ tu viện Bát Nhả?

Ứng viên văn chương thì hơi nhiều, có ngục khỉ Nguyễn Chí Vẹm, với tập thơ” chôm đề”. Nhà dzăng nô Dzương Thu-Cương với tác phẩm” đỉnh cao cháy rụi”…..nhưng nhà dzăng” đang lên và sắp xệ” là Đặng Nham Nhở, với 3 tác phẩm PHÓNG TÁC, dựa theo lịch sử miền Nam, mang tên là” Bịa Hậu Trường Sâu Khấu Chính Trị Miền Nam” cũng là ứng viên sáng giá, tối giá cho giải Nobel năm 2010 chớ bộ.

Nhà dzăng có ” nghiệp chuyên” viết chuyện phóng tác ( Fiction) nhưng lại dựa theo sử liệu, khiến nhiều người đọc mà tưởng là chuyện thật, thế mới tài. Nhà dzăng có tài pha trộn một số người tham nhũng với các tướng sạch, hết lòng vì nước, nhiều bị đã vị quốc vong thân… Do đó, nếu ai không biết nhà dzăng Da Dưới là người” thời ly loạn, trường kỳ trốn lính” và thành tích” không có tên trong danh sách WHO’S WHO ở miền Nam, thì tưởng là nhà dzăng là” dương vật quan trọng”, biết từ gầm giường, bàn nhậu, cửa sau… ở Dinh Độc Lập Dinh Gia Long, phi trường, hải cảng, bộ tư lịnh, văn phòng của tướng lãnh…mà tưởng là có thật, nên sách tiểu thuyết phóng tác của nhà dzăng họ Đặng, có ác cảm, hiểu lầm là: chính phủ và quân lực VNCH toàn là tham nhũng, buôn bán ma tuy, trai gái….tức là nhà dzăng” tài ba lỗi lạc hậu” nầy có khả năng tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật, y như những văn nô trong nước, thuộc bộ thông tin văn hóa. Những tác phẩm của nhà dzăng là tiếp nối, bổ sung cho quyển” Bộ Mặt Thật Tướng Ngụy” của Việt Cộng, phát hành và phổ biến vào năm 1976, nhằm đánh đổ hoàn toàn bốn chữ” Việt Nam Cộng Hòa”.

Sơ yếu lý lịch: nhà dzăng thuộc gia đình vẻ vang, có công với cách mạng, cha từng theo Bác, đảng thời” khiến chán” 1945 đến 1954, lập công phá hỏng một đầu máy” tàu hỏa” và vào bưng. Nhà dzăng vào Nam sau 1954, trốn lính trường kỳ, nên có tên được” đăng ký” tại Chợ Cá Trần Quốc Toản , bến xe đò An Đông, đúng là:

” Đặng Nhâm nhi quần hòe.
Đứng bến xe.
Rình hè.
Uống La-De.
Canh Me.
Rình phòng the.
Lấy le.
Chạy áp phe.
Trốn lính khỏe re.
Tự cao, hay khoe.
Xạo Ke.
Hối lộ bằng hăm he
Viết vậy chẳng ai nghe.
Bị vạch mặt, chạy te”.

Do chịu ảnh hưởng văn phong chợ cá, bến xe, dĩa hè…nên lối hành văn rất độc đáo, thật là” bình dân học vụ” và mang đầy tính chất” chụp mũ, chửi bới” mà không theo cách viết” duy lý và thực dụng” tức là chửi bới mà không cần phải đúng hay sai. Cho nên nhà dzăng thuộc trường phái” tình anh bán cá” đá cá lăn dưa, cù cưa nói phét:

” Đặng Nham Nhở.
Chọn Đan Mạch… ở.
Viết dở.
Không biết mắc cỡ.
Thật giả, úp mở.
Bịa đặt, văn chuyên chở.
Nhà văn quái gở.
Tưởng bở.
Về Việt Nam in sách đỡ.
Viết lách nhiều khe hở.
Bị vạch mặt, ná thở”.

Do đó, hy vọng năm 2010 tới đây, trong danh sách ứng viên người Việt, có thêm nhà dzăng Dạ Dưới Đăng Nham Nhở, nếu ủy ban cứu xét Na Uy có đa số là thành viên gốc Vẹm, hay Việt Nam được cử là chủ tịch luân phiên Ủy Ban bình chọn, như từng là chủ tịch luân phiên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, chủ tịch ủy ban nhân quyền ở Geneve, gần đây là sắp làm chủ tịch khối Asian vào 2010. Thì nhà dzăng Dạ Dưới có triển vọng chiếm giải Nobel, vì 3 cuốn ” Bịa hậu Trường Sân Khấu Chính Trị miền nam” rất phù hợp với chính sách” đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”.

Trương Minh Hòa
30.10.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

October 29, 2009

súc vật lê văn xương tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

súc vật lê văn xương tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

suc-vat-le-van-xuong-tay-sai-an-cut-suc-vat-ho-chi-minh

súc vật lê văn xương tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh from hochiminhsucvat on Vimeo.

ĐẠI HỘI TOÀN QUÂN – Trường Hợp Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh – Nguyễn Văn Chức

dai-hoi-toan-quan

ĐẠI HỘI TOÀN QUÂN – Trường Hợp Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh – Nguyễn Văn Chức

(trích từ Con Ong Việt số 44 tháng 12/2003)

* 1.

“Năm 1955, tôi đang giữ chức Tư Lệnh Phân Khu Duyên Hải Nha Trang thì nghe đuợc dư luận dân chúng Nha Trang ca ngợi khả năng và đạo đức mô phạm của một thầy dậy toán ở trường trung học Võ Tánh, đó là chuẩn úy không quân Nguyễn Xuân Vinh. Tôi bèn mời Vinh đến nhà đàm đạo để tìm hiểu con nguời Vinh. Vinh là một nhà trí thức có chí lớn và có chân tài, nhưng Vinh đã bị tướng Nguyễn Văn Hinh và thực dân Pháp trù yểm không cho cơ hội tiến thân. Như trước kia tôi đã trình bày, trong chủ trương tìm kiếm nhân tài cho chế độ Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ, tôi dùng mọi uy thế của tôi để tiến cử Nguyễn Xuân Vinh. Chỉ trong khoảng 6, 7 năm mà Vinh đã từ chuẩn uý lên đến đại tá và đuợc giữ chức tư lệnh không lực VNCH.
Một hôm tôi đang ngồi ở nhà, thì Vinh đến trong bộ quân phục trắng nghiêm trang. Vinh mời tôi và cả vợ tôi ra ngồi phòng khách để Vinh được nói đôi lời:
- “Thưa đại tá, hôm nay tôi sở dĩ đến đây là vì tôi vừa được nghị định vinh thăng đại tá. Sở dĩ tôi được ngày nay, có được sự nghiệp ngày nay và tương lai chắc chắn sẽ huy hoàng rực rỡ để tôi có thể giúp ích cho quân đội cho quốc gia, đó là công ơn của đại tá”.
Vinh còn nói nhiều đến “cặp mắt xanh” của tôi “biết người biết của”. Vinh nói đến chuyện cổ kim mà tôi đã noi gương tìm nhân tài cho chế độ, v.v. . .Thế rồi Vinh móc trong túi lấy cặp lon ba mai trắng nhờ tôi gắn lên cầu vai áo để Vinh có dịp tỏ lòng biết ơn tri ngộ.”

Những dòng trên đây được trích nguyên văn từ Bút Ký Bạn Già Bạn Trẻ của Hoành Linh, tức Đỗ Mậu, trên tờ Việt Nam Hải Ngoại năm 1978.

Những suy nghĩ nói trên cũng đã được Đỗ Mậu nhắc lại trong quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, trang 473, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1986.

Trong một tài liệu khác, Đỗ Mậu khoe đã đỡ đầu cho ông Vinh tuyên thệ vào đảng Cần Lao, để ông Vinh được vinh thăng đại tá và giữ chức Tư Lệnh Không Quân.

Sau biến cố 1963, tôi là luật sư duy nhất biện hộ cho bác sĩ Trần Kim Tuyến trước tòa án của chế độ mới. Hầu như chiều thứ Bẩy nào tôi cũng vào nói truyện với ông trong tù để tìm hiểu về một số nhân vật thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Tình cờ, ông có nói đến vụ Đỗ Mậu đỡ đầu cho Nguyễn Xuân Vinh tuyên thệ vào đảng Cần Lao.

Đỗ Mậu là một kẻ luồn cúi, phản phúc, hèn hạ, và vô cùng háo danh. Cuối đời, Đỗ Mậu đã về Việt Nam và được Việt Cộng cho lên đài phát thanh của nhà nước để ca tụng công đức của tên giặc già Hồ Chí Minh đối với dân tộc, nhắc lại công lao của CSVN đối với đất nước, và kêu gọi hoà hợp hoà giải dân tộc.

* 2.

Đầu thế kỷ 21, tại hải ngoại, có những kẻ lên tiếng đòi VC huỷ bỏ điều 4 hiến pháp VC. Điều 4 hiến pháp VC viết như sau:

“Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam theo chủ nghĩa Mác Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến Pháp và pháp luật”.

Câu hỏi đuợc đặt ra: khi đòi VC huỷ bỏ điều 4 Hiến Pháp VC, những kẻ đó nghĩ gì và muốn gì?
Phải chăng, họ nghĩ rằng: một khi điều 4 hiến pháp VC bị huỷ bỏ, thì tất cả những điều khoản trong hiến pháp VC-liên quan đến điều 4-đương nhiên bị huỷ bỏ?

Nghĩ như vậy là sai.

Luật hiến pháp thuộc khoa học xã hội (sciences sociales) tức là khoa học về tổ chức và phát triển xã hội. Luật hiến pháp không thuộc loại khoa học chính xác (sciences exactes), tức những ngành khoa học chiụ sự chi phối của toán học, hoặc khoa học thực nghiệm như y khoa.

Trong khoa học chính xác cũng như trong khoa học thực nghiệm, thì một khi cái gốc đã bị tiêu diệt thì tất cả chi nhánh của cái gốc đó đương nhiên bị tiêu diệt. Thí dụ: khi gốc ung thư phổi được cắt đi kịp thời, thì những mầm ung thư của nó trong thân thể người bệnh đương nhiên sẽ bị tiêu diệt. Thí dụ khác: khi cái đầu của con mực tuộc (octopus) bị đâm thủng, thì 8 cánh tay hút máu (tentacules) của nó đương nhiên bị tê liệt. Tôi nhắc đến con mực tuộc (tiếng Pháp là “pieuvre”), vì liên tưởng đến con “pieuvre” trong cuốn Les Travailleurs De La Mer của Victor Hugo.

Trong khoa học xã hội-nói rõ hơn: trong luật hiến pháp-những hiện tượng đó không xẩy ra. Trong một bản hiến pháp, mỗi điều khoản đều có chỗ đứng riêng của nó. Về thực chất, nó có thể liên hệ với điều khoản gốc, nhưng sự hiện hữu của nó lại không lệ thuộc vào điều khoản gốc. Nói cách khác, nó không đương nhiên bị huỷ bỏ khi điều khoản gốc bị huỷ bỏ.

Trở lại bản hiến pháp của Việt Cộng. Bản hiến pháp này gồm 147 điều khoản, trong đó rải rác hàng chục điều khoản có thực chất liên hệ với điều 4.

Thế nhưng, những điều khoản ấy có sự hiện hữu riêng biệt, không lệ thuộc vào điều 4, nghiã là: không đương nhiên bị huỷ bỏ, khi điều 4 bị huỷ bỏ.
Trên đây, tôi bàn sơ về luật hiến pháp, về điều 4 hiến pháp VC, và về những điều khoản liên hệ.

Câu hỏi của tôi lại được đặt ra.

* Khi đòi huỷ bỏ điều 4 hiến pháp Việt Cộng, những nguời đòi hủy bỏ muốn gì?

Phải chăng họ nhìn nhận toàn bộ bản hiến pháp của Việt Cộng, chỉ trừ điều 4?.

Phải chăng họ nhìn nhận lá cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng, quy định nơi điều 141 ?(*) Phải chăng họ nhìn nhận bài Tiến Quân Ca, tức quốc ca của Việt Cộng, quy định nơi điều 143 ? (* *)

Phải chăng họ nhìn nhận tính hợp pháp (legality) và tính chánh thống (legitimacy) của quốc hội Việt Cộng, cái quốc hội trước đây đã biểu quyết bản hiến pháp có điều 4, cũng như cái quốc hội sẽ huỷ bỏ điều 4 sau này?

Phải chăng họ nhìn nhận tính hợp pháp và tính chánh thống của bạo quyền Việt Cộng trước đây cũng như bây giờ?

* Họ là những ai? ?

Năm 2001, một nhóm phục hưng nào đó lên tiếng đòi huỷ bỏ điều 4 Hiến Pháp VC. Tôi đã im lặng.

Năm 2002 (ngày 20 tháng 10) tại Cali, một bản văn mang tên “Tuyên Ngôn Dân Chủ Việt Nam 2002” được công bố. Bản tuyên ngôn lên án tội ác của đảng CSVN đối với dân tộc và đối với nhân dân VN từ hơn nửa thế kỷ nay.
Nhưng nọc độc nằm ở cái đuôi (in cauda venenum), những người ký tên trên bản tuyên ngôn lại cũng đòi Việt Cộng phải huỷ bỏ điều 4 hiến pháp. Trong những người ký tên, có giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, bên cạnh các ông Trần Thanh Hiệp, Trương Bổn Tài.

* 3.

Trong vụ mệnh danh “đại hội toàn quân” cuối tháng 9 vưà qua-một đại hội do mặt trận Hoàng Cơ Minh và nhóm tay chân nhớp nhuá của Nguyễn văn Thiệu tổ chức, nhằm đưa tập thể cựu chiến sĩ VNCH hải ngoại vào những mưu đồ phản bội- người ta lại thấy giáo sư Nguyễn Xuân Vinh bên cạnh các ông Lê Minh Đảo, Nguyễn Khắc Bình, Mai Viết Triết.

Tại sao lại “đại hội toàn quân”? Toàn quân là toàn thể quân đội lúc chưa tan hàng. Toàn quân còn bao gồm tất cả anh em quân đội hiện còn sống, trong và ngoài nước. Các ông Lê Minh Đảo, Nguyển Khắc Bình, Mai Viết Triết và mặt trận Hoàng Cơ Minh lấy danh nghĩa gì mà tổ chức “đại hội toàn quân”?.

Tại sao những người đứng ra tổ chức “đại hội toàn quân” lại là các ông Lê Minh Đảo, Mai Viết Triết, Nguyễn Khắc Bình và mặt trận Hoàng Cơ Minh? Họ là những ai? Xin thưa: họ là bọn người mà ai cũng biết. Họ đang làm cái điều mà từ năm 1995 đến nay VC vẫn mong muốn, là: giúp Việt Cộng hoà giải hoà hợp với đồng bào hải ngoại để cô lập cuộc đấu tranh đòi dân chủ tự do của đồng bào trong nước. Đó chỉ là bước đầu.

Tại sao trong cái tập thể mang danh Tập Thể Chiến Sĩ CHVN Hải Ngoại (viết tắt: Tập Thể) do đại hội lập ra, quý vị tướng lãnh lại chỉ được giữ vai phụ (tư vấn và giám sát)?.

Tại sao quý vị tướng lãnh-nhất là quý vị tướng lãnh niên trưởng- lại không được quyền có tiếng nói trong 3 lãnh vực sinh tử của Tập Thể, là: đường lối, lập trường và phương thức đấu tranh?

Tại sao Tập Thể lại gồm cả “thế hệ hậu duệ”? Thế hệ hậu duệ là thế hệ con cháu. Xin hỏi: con cháu cho đến mấy đời? Và xin hỏi: về lập trường quốc gia dân tộc, có gì bảo đảm rằng thế hệ hậu duệ sẽ tiếp nối con đường của các bậc cha anh? Những kẻ tổ chức đại hội toàn quân mưu đồ gì khi “trồng người” và đưa thế hệ hậu duệ vào nằm mai phục trong Tập Thể?

Trên đây, tôi chỉ nêu ra một vài suy nghĩ liên quan đến cái gọi là “đại hội toàn quân”. Nêu ra cho hết, e làm mất thì giờ bạn đọc.

Còn một suy nghĩ khác, tôi muốn nói lên.
Tại sao một người như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh lại tham gia cái mệnh danh “đại hội toàn quân”? Chẳng những tham gia, giáo sư còn là chủ tịch cái mệnh danh Hội Đồng Đại Diện Tập Thể CSVNCHHN.

Phải chăng “cặp mắt xanh” năm xưa của Đỗ Mậu đã nhìn thấy rõ chân tướng của giáo sư?

Nguyễn Văn Chức
Houston 22.10.2003

(*) Điều 141 hiến pháp VC : “Quốc kỳ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
(**) Điều 143 hiến pháp VC: “Quốc ca nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của “bài Tiến Quân Ca”.

http://tinparis.net/vn_index.html

October 28, 2009

suc vat ho chi minh suc vat (+18yo)

Filed under: suc vat ho chi minh suc vat — canlearn @ 10:48 pm
Tags:

suc vat ho chi minh suc vat (+18yo)












suc vat ho chi minh (+18yo)







































suc vat ho chi minh (+18yo)























October 27, 2009

WHO: Đặc điểm lâm sàng của các ca bệnh nặng trong cúm đại dịch

WHO: Đặc điểm lâm sàng của các ca bệnh nặng trong cúm đại dịch

Clinical features of severe cases of pandemic influenza, WHO

Người dịch: Nguyễn Thị Thu Trang.

Nhằm tập hợp các thông tin về đặc điểm bệnh lý và quản lý đại dịch cúm, Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) đã tổ chức một cuộc hội nghị trong 3 ngày tại cơ quan đầu não của Tổ chức Sức khỏe Xuyên châu Mỹ (Pan American Health Organization) tại Washington DC từ ngày 14 đến 16 tháng 10. Các phát hiện và kinh nghiệm được trình bày bởi khoảng 100 các nhà bệnh học lâm sàng và các chuyên gia sức khỏe cộng đồng đến từ các châu Mỹ, Âu, Á, Phi, Trung đông và châu Đại dương.

Cuộc họp đã khẳng định rằng phần lớn và chiếm ưu thế hơn trong số các bệnh nhân đã bị nhiễm cúm H1N1 vẫn chỉ là trải qua một số chứng bệnh như cúm thông thường, với khả năng phục hồi trong vòng 1 tuần, ngay cả khi không can thiệp bằng y khoa.

Nhu cầu chăm sóc chuyên khoa

Tuy nhiên, mối quan tâm hiện giờ là tập trung vào việc quản lý và điều trị y khoa cho các nhóm nhỏ bệnh nhân đang gia tăng các triệu chứng viêm phổi cấp. Trong số các bệnh nhân này, viêm phổi cấp thường liên quan đến một bệnh nào đó của cơ thể hay làm nặng hơn chứng hen suyễn tiềm tàng hoặc bệnh tắc nghẽn đường hô hấp mãn tính.

Điều trị cho các bệnh nhân này thường rất khó và đòi hỏi cấp thiết phải có các phòng cấp cứu và chăm sóc đặc biệt sẽ khiến vấn đề chăm sóc bệnh nhân trong đại dịch trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Đầu tiên, viêm phổi do virus là phát hiện thường gặp nhất trong số các ca nghiêm trọng gây ra tử vong. Kế đó là nhiễm khuẩn chiếm khoảng 30% các ca chết người. Bệnh tắc nghẽn hô hấp và sốc do nhiễm trùng là những nguyên nhân gây ra tử vong nhiều nhất.

Các bài thuyết trình trong hội nghị đã khảo sát bệnh lý học của các ca nghiêm trọng một cách chi tiết, với các phát hiện được hỗ trợ bằng thực nghiệm trên động vật. Các phát hiện này đã khẳng định khả năng virus H1N1 có thể trực tiếp gây ra bệnh viêm phổi cấp.

Những khác biệt bệnh lý so với cúm mùa

Các thành viên từng tham gia quản lý các ca bệnh nói trên đã thống nhất rằng các dấu hiệu bệnh lý trong các trường hợp nặng có những dấu hiệu khác biệt đáng chú ý cần phải được xem xét trong bối cảnh dịch cúm mùa. Đối với những bệnh nhân có một bệnh tiềm tàng nào đó, bao gồm phụ nữ có thai, được cho rằng gặp nguy cơ gia tăng, nhiều ca nặng xảy ra cả ở thanh thiếu niên. Trong số những bệnh nhân này, yếu tố cơ địa làm gia tăng các nguy cơ bệnh nặng hiện thời vẫn chưa được làm rõ, tuy vậy các nghiên cứu vẫn đang được thực hiện tiếp.

Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân thường bắt đầu trở bệnh nặng khoảng từ 3 đến 5 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu. Bệnh trở nặng nhanh, với nhiều bệnh nhân, quá trình tắc nghẽn hô hấp xảy ra trong vòng 24 giờ, đòi hỏi ngay lập tức phải đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt. Trong khi đưa vào phòng đặc biệt, hầu hết người bệnh cần hỗ trợ đường thở bằng máy thở. tuy nhiên, một vài bệnh nhân không đáp ứng tốt với việc hỗ trợ thở thì cần có những biện pháp điều trị phức tạp hơn.

Một cách tích cực, các phát hiện được trình bày trong suốt cuộc hội thảo đã cung cấp những bằng chứng sống động cho thấy rằng việc điều trị nhanh với thuốc kháng virus như oseltamivir hay zanamivir, làm giảm tính nghiêm trọng của bệnh và gia tăng cơ hội sống sót. Các kết quả này càng củng cố thêm các khuyến cáo của WHO trước đo rằng nên cho bệnh nhân điều trị sớ với thuốc kháng virus đối với các bệnh nhân thỏa điều kiện điều trị, ngay cả khi chưa có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính.

Thêm vào việc bệnh viêm phổi gây ra bởi sự nhân mật số của virus, bằng chứng đã chỉ ra rằng bệnh viêm phổi còn bị gây ra bởi sự nhiễm khuẩn đồng thời các loại khuẩn làm gia tăng tiến trình bệnh. Các vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumoniae và Staphylococcus aureus, bao gồm các dòng kháng methicillin trong một số ca. Vì việc nhiễm khuẩn đồng thời trở nên nhiều hơn so với nhận định ban đầu, các thầy thuốc lâm sàng đã nhấn mạnh rằng cần xem xét các biện pháp chữa trị sớm bằng thuốc chữa vi khuẩn theo kinh nghiệm trong cồng đồng có khả năng bị viêm phổi.

Các nhóm nguy cơ cao

Các thành viên tham gia thống nhất rằng nguy cơ gây tử vong cao nhất hiện tại là 3 nhóm: phụ nữ mang thai, đặc biệt trong quý thứ 3 của thai kỳ, trẻ em nhỏ hơn 3 tuổi và người bị bệnh phổi mãn tính, bao gồm hen suyễn. Rối loạn thần kinh có thể làm gia tăng nguy cơ bệnh nặng ở trẻ em.

Các bằng chứng được trình bày trong hội nghị cũng chỉ ra rằng các cộng đồng gặp bất lợi như các nhóm thiểu số và các dân cư bản địa, bị nhiễm bệnh nặng không theo tỷ lệ nào. mặc dù các lý do của việc gia tăng nguy cơ này chưa được làm rõ, lý thuyết đang khảo sát bao gồm các loại bệnh đi kèm như bệnh thận và hen suyễn, thường tìm thấy trong nhóm này và thường thiếu sự chăm sóc.

Mặc dù vai trò của bệnh béo phì chưa được làm rõ trong hiện tại, béo phì và nhất là béo phì bệnh lý được cho là chiếm tỷ lệ lớn trong các ca nặng và gây chết người. Béo phì không được nhận dạng là một yếu tố nguy cơ trong cả các đại dịch trong quá khứ lẫn cúm mùa.

WHO và các đối tác của WHO đang cung cấp những hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ tưực hành nhằm giúp các nước đang phát triển có thể phát hiện và điều trị tốt hơn các loại bệnh gây ra do cúm đại dịch. Lời khuyên chăm sóc bệnh nhân áp dụng cho những nơi có nguồn tài nguyên giới hạn đang được soạn thảo gấp rút.

Nguồn: WHO

http://x-cafevn.org/node/2313

Quoc ca VNCH

Filed under: Quoc ca VNCH — canlearn @ 6:44 pm
Tags:

FBI mời đồng bào hợp tác

fbi-moi-dong-bao-hop-tac

FBI mời đồng bào hợp tác

http://www.youtube.com/watch?v=m_ERH2n8Vik

http://www.youtube.com/user/hochiminhsucvat

October 26, 2009

Uy Ban Bao Ve Ky Dai

Filed under: Uy Ban Bao Ve Ky Dai — canlearn @ 4:05 pm
Tags:

súc vật đoàn viết hoạt tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

suc-vat-doan-viet-hoat-tay-sai-an-cut-suc-vat-ho-chi-minh

súc vật đoàn viết hoạt tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

Thế Nào Là Tù Cải Tạo? – Bài 2 – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Quý độc giả vừa đọc qua bài viết số 1, về « người tù hai mươi năm khổ sai »: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, người đã và đang cầm đầu của băng đảng « Cao Trào Nhân Bản », với hình ảnh « thăm nuôi » độc nhất vô nhị, mà chắc chắn tất cả quý vị là cựu tù « cải tạo », đã từng trải qua trong các nhà tù của Việt cộng, dù có nằm mơ cũng đều không bao giờ có thể thấy được.

Và để tiếp tục giới thiệu đến quý vị một « người tù » khác, thì trước hết, tôi xin thành kính tri ân đến các bậc trưởng thượng đã có những lời chỉ giáo, qua bằng nhiều cách trong thời gian vừa qua, khi tôi viết bài số 1; trong đó có vị Sĩ quan và là cựu tù với 13 năm « cải tạo » đã qua nhiều nhà tù khác nhau, từ Nam chí Bắc, mà tôi chắc vị này đã cao niên, vậy nhân đây, tôi xin phép để được gọi là: Sư huynh Võ Văn Sĩ, và một vị tôi không biết tên, đã vô ngôn trong một bản tin của nhà tù Quyết Tiến với nạn nhân là Trương Văn Thọ. Đặc biệt, tôi đã lĩnh hội được những lời nói của nhị vị cao kiến, đồng thời một lần nữa với sự lưu tâm của các bậc trưởng thượng, đã khiến cho tôi không hề lo sợ trước những cơn cuồng phong có thể sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới, mà tôi biết: qua trận cuồng phong ấy, chắc chắn sẽ có những cây sồi to lớn, chúng sẽ bị bật tung tận gốc rễ, sẽ ngã nghiêng trong cơn bão tố, để rồi có những kẻ đã và đang chờ đợi, họ sẽ thu nhặt những cành cây đã bị gãy đổ, và đem về mà cho vào lò lửa, để sưởi ấm cho họ giữa Trời đông… còn tôi, tôi chỉ là một cây lau, cây lách yếu đuối, nhỏ bé, vì thế, nếu có bị vùi dập, bị chết trong cơn giông bão, thì tôi không hề có một chút gì để phải sợ cả, mà có thể ý Trời đã muốn như thế?

Và bây giờ, để không phụ lòng của quý vị, nên tôi lại tiếp tục giới thiệu thêm một người « tù » khác, cũng không kém Lỗ Bình Sơn (Robinson) đã vượt qua mọi « gian nan » để trở về đất… Mỹ một cách bình an. Đó là « người tù cải tạo 19 năm, với 4 năm tù biệt giam » trong các nhà tù của Việt cộng: «Chí hữu » Đoàn Viết Hoạt:

Theo các tài liệu và tin tức từ « Văn phòng Đoàn Viết Hoạt » mà tôi đã có trong tay thì:

« – Đoàn Viết Hoạt sinh năm 1942.

Trước năm 1975, Phụ tá viện trưởng « Hòa thượng » Thích Minh Châu, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn.

Năm 1976: bị bắt đi tù 12 năm. Năm 1988, được trả tự do.

Năm 1993: bị Việt cộng kết án 20 năm tù và 5 năm quản chế.

Từ nhà tù, tiếp tục viết bài gửi ra nước ngoài. Bị hoàn toàn cô lập. gia đình không có tin tức gì từ tháng 8-1997, cũng trong năm 1997: Hiệp Hội Báo Chí Thế Giới trao tặng giải thưởng Ngòi Bút Vàng của Tự Do năm 1998.

Tháng 9-1998, được trả tự do và đến Hoa Kỳ ngày 3-9-1998 ».

Cũng theo một bài báo đã viết về: “Giáo sư Đoàn Viết Hoạt nói chuyện tại Nam Cali”. (Tin của VNAForum). Đoàn Viết Hoạt cũng đã cho biết: “đã tham gia chiến dịch Nguyễn Trãi”. Điều này tôi đã biết, vì tổ chức của Hoạt – Quế đã và đang tiếp tục tuyển thêm nhiều Nguyễn Trãi khác. Song có một điều mà Đoàn Viết Hoạt có thể không biết, là có một người cũng đã được mời làm Nguyễn Trãi số 1, của cái gọi là “ Cao Trào Nhân Bản” nhưng sau khi đã biết rõ về những việc làm phi pháp, bất chính, bất nghĩa và bất nhân của tổ chức này, vì thế họ đã “cao phi viễn tẩu” từ lâu lắm đấy.

Sau đây là những điều mà chính Đoàn Viết Hoạt đã nói, tất cả đều hoàn toàn láo khoét, cũng như vì nói láo, nên câu sau đã trái ngược với những điều đã nói ở câu trước. Vậy, nhân đây, tôi phải trích đoạn lại những điểm chính của bài viết, kèm theo với lời giải thích của tôi như sau:

Bản tin này đã được đăng trên báo Thông Luận ngày 21-12-1998, tại Pháp, kính mời quý vị cựu tù “cải tạo” đã từng qua các nhà tù việt cộng hãy cùng nghe “người tù cải tạo19 năm với 4 năm tù biệt giam” Đoàn Viết Hoạt kể qua bài viết:

“… Ngày 17-11-1990, ông bị bắt giữ. Tháng 11-1992, ông đã gửi ra ngoài được “Lời Kêu Gọi Từ Nhà Tù”. Ông kể rằng, vì không có một mẫu giấy, bút, ông phải viết Lời Kêu Gọi này trong đầu mình và học thuộc lòng cả đến dấu chấm và phẩy. Ông dặn vợ và người con út khi vào thăm thì bỏ một máy thu âm nhỏ vào chiếc túi vải để sát màng lưới sắt cách ngăn ông và người vào thăm. Ông chọn chỗ ngồi khuất ở cuối phòng, cách mặt mấy tên quản giáo. Rồi thay vì thăm hỏi vợ con, ông đọc nho nhỏ toàn bài Lời Kêu Gọi, với cả những dấu chấm, phẩy. Sau đó người con ông đã chép lại, đem đánh máy và lén chuyển ra nước ngoài”.

Và đây là những bằng chứng nói láo của Đoàn Viết Hoạt:

Thứ nhất, như bài viết số 1, tôi đã nói qua về một mô hình của một “nhà thăm nuôi” của trại tù “cải tạo”. thì không bao giờ có một người tù nào được phép tự chọn chỗ ngồi lúc vào “nhà thăm nuôi”. Bởi, tất cả mọi người tù mỗi lần đi vào phòng để gặp người thân, thì bắt buộc phải đi theo sự hướng dẫn của “cán bộ dẫn giải” và “trật tự” của trại, tất cả đều phải đi theo thành hàng, có khi phải vừa đi, vừa giơ tay, vừa đếm số thật lớn từ 1- 2-3- 4-5 … nữa. Sau khi vào phòng thì người tù phải ngồi trước trên một chiếc ghế dài ở phía trong. Sau đó, “ cán bộ phụ trách thăm nuôi” mới cho “trật tự” ra gọi tên những người thân của họ, cũng phải đi theo thứ tự mà vào phòng, và phải ngồi trên chiếc ghế dài ở phía ngoài cửa ra vào. Mặc dù vậy, nhưng phải chờ cho đến lúc tên công an ngồi ở đầu bàn phía trong lên tiếng:

“Các anh, các chị bắt đầu được phép nói chuyện”.

Sau khẩu lệnh này, thì mọi người mới được nói chuyện với nhau, nhưng vẫn phải nói thật lớn, để cho tên công an này nghe cho rõ ràng, thời gian nói chuyện tối đa là chỉ 15 phút, và không có một người nào được “ mang một máy thu âm nhỏ” nào đem vào “ nhà thăm nuôi”, bởi thân nhân của người tù, nếu không muốn bị những tên công an đuổi ra khỏi “ nhà thăm nuôi”, phải bị cúp thăm nuôi, để rồi phải gánh quà trở về, thì họ đều phải “chấp hành mệnh lệnh” của công an trại. Mặt khác, chắc ai cũng đều biết, dù một máy thu âm nhỏ đi nữa, nó cũng phải phát ra tiếng kêu, vì đây không phải là một loại “con bọ” điện tử cực nhỏ, được gắn trong người, dùng để ghi âm, thu hình không phát sóng như bây giờ, Đoàn Viết Hoạt phải nên nhớ cho kỹ: đó là “ nhà thăm nuôi” của trại tù “cải tạo” ở vào cuối thế kỷ trước, và nhất cử, nhất động, đều không bao giờ qua được cặp mắt của công an và “trật tự” của trại.

Thứ hai, cũng như trước đây, vào năm 1998, Thích Quảng Độ đã từng nói với Võ Văn Ái là “ tôi làm bốn trăm bài thơ, mà chỉ làm trong đầu, tôi đã đánh số thứ tự từ số 1, số 2, số ba, cho đến số 400 trăm” nhưng mãi cho đến năm 2009, thì “tập “Thơ tù” của Quảng Độ mới được Võ Văn Ái đem in và bán. Điều này, chắc có nhiều người khó hiểu, vì sao mà tập “ Thơ Tù” Thích Quảng Độ nói đã thuộc lòng trong đầu, mà tại sao lại quá lâu như vậy, mới được “trình làng”, để dịch ta nhiều thứ tiếng để dự tranh giải Nobel Văn Chương? Xin thưa: thì quảng cáo trước như thế, chứ để từ từ cho đệ tử làm cho đủ bốn trăm bài “ Thơ Tù” chứ làm gì có thật mà bảo in liền được chứ. Cũng vậy, Đoàn Viết Hoạt đã “ viết Lời Kêu Gọi” trong đầu mình và học thuộc lòng cả đến dấu chấm và dấu phẩy”. Như thế, từ Thích Quảng Độ rồi Đoàn Viết Hoạt cũng đều nói láo như nhau. Điều này cũng không khó hiểu, bởi cả cặp đều từng ở trong Đại Học Vạn Hạnh, của Phật giáo Ấn Quang. Bới không biết nói láo là không phải là Phật giáo Ấn Quang, vì một khi đã gia nhập vào lò đúc Ấn Quang, thì trước hết phải tập nói láo, cho đến khi thuần thục thì mới được xuất lò.

Và bài báo viết tiếp:

“Ông Võ Khôi đặt câu hỏi giáo sư có liên lạc với Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và có những liên lạc trong nước, ngoài nước hay không?”

“Giáo sư Hoạt cho hay hoạt động đấu tranh ở trong nước rất khó khăn, nhưng phối hợp với trong nước là việc phải làm, và ông đã làm. Giáo sư Hoạt cho hay ông đã liên lạc với Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bằng điện thoại”.

Cái gì mà khôi hài lắm thế hả Đoàn Viết Hoạt? Thế tại sao chính Hoạt đã nói “ở tù” những 19 năm, biệt giam 4 năm và bị quản chế 5 năm. Còn cái gọi là “ Cao Trào Nhân Bản” thì ban đầu nói Nguyễn Đan Quế “bị kết án 20 năm tù khổ sai và đã ở tù mười năm” thế nhưng, bây giờ tôi vào trang caotraonhanban. com, thì lại thấy bọn “ Cao Trào Nhân Bản” đã tăng thêm cho Nguyễn Đan Quế tới hơn hai mươi năm tù, và đã được đề cử để tranh giải Nobel Hòa Bình nữa. Ôi! Giải Nobel chứ đâu có phải cái giải yếm đâu, mà cả ông Quảng Độ và Nguyễn Đan Quế đều cứ mơ cứ tưởng mãi, mà chắc phải chờ cho đến khi vào nằm trong quan tài rồi, thì sẽ có người đem cái “giải” đến tận nơi để đắp lên mặt cho mát. Nhưng theo các bản tin của “ Cao Trào Nhân Bản”, thì Nguyễn Đan Quế đã “ở tù tới hơn hai mươi năm, bị quản thúc, và cắt điện thoại nữa”. Như vậy, cả hai đều ở tù khổ sai, trên dưới 20 năm, bị biệt giam, bị quản thúc và cắt cả điện thoại, thì làm sao mà Đoàn Viết Hoạt có thể: “ … phối hợp với trong nước là việc phải làm, và ông đã làm. Giáo sư Hoạt cho hay ông đã liên lạc với Bác sĩ Nguyễn Đan Quế qua điện thoại???”.

Nói tóm lại, là những cái chuyện “ở tù” 19 năm, hơn 20 năm, bị tù biệt giam, quản thúc của cả hai tên Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế đều là láo khoét. Nên nhớ, là ngày 30-4-1975, cả hai tên Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế đã ra lệnh cho hàng trăm “sinh viên”, thực ra chúng là những tên đặc công đã mai phục ở trong Đại Học vạn Hạnh, và chúng đã cùng nhau cầm cờ ngũ sắc của Phật giáo và cờ của “Mặt trận Giải phóng miền Nam” để đi đón rước “bộ đội” cộng sản Bắc Việt vào Thủ đô Sài Gòn.

Hình ảnh của Đoàn Viết Hoạt “mới ra khỏi nhà tù” của việt cộng:

Chắc nhiều người còn nhớ, lúc Đoàn Viết Hoạt được cho là “mới ra tù” khi xuống khỏi phi cơ tại phi trường Los Angeles, Hoa Kỳ, Đoàn Viết Hoạt đã rút từ trong áo ra một “Bản Tuyên Ngôn” đã được viết sẵn từ trong nước, và đã đọc ngay cho khoảng 100 người, là những “chí hữu” của Đoàn Viết Hoạt nghe, rồi được các “chí hữu” vỗ tay, vỗ mông rối rít. Nhưng ác hại thay, vì chính cái bản văn đã viết sẵn này, cộng thêm với cái mặt béo tốt, trông như con heo Thái Lan đã được nuôi rất kỹ lưỡng, nó đã khiến cho nhiều người lúc đó đã không tin được Đoàn Viết Hoạt là một người mới ra khỏi nhà tù của Việt cộng, rồi thêm cái bản văn đã viết sẵn đó, nó đã tự tố cáo là Đoàn Viết Hoạt không có ở tù. Vậy,một lần nữa, tôi xin kính mời các vị cựu tù “cải tạo” thuộc Quân- Cán -Chính của Việt Nam Cộng Hòa, xin quý vị hãy nhìn xem “ người tù” Đoàn Viết Hoạt, với cái bản mặt “ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” khi “mới ra tù” mà tôi xin đính kèm theo đây, để quý vị thẩm xét. Riêng tôi, thì chắc chắn đây là một cán bộ cao cấp của đảng cộng sản Hà Nội, đã được “đào tạo nghiệp vụ cao” trước khi xuất ngoại để làm công tác ngoại vận.

hangiangtranletuyen_doanviethoat

Đây: hình ảnh béo tốt, bảnh bao “mới ra tù”của “người tù Đoàn Viết Hoạt với 19 năm tù ở, 4 năm biệt giam và 5 năm quản chế”, tại Phi trường Los Angeles Hoa Kỳ, chiều ngày 3-9-1998.

Đoàn Viết Hoạt qua bài viết của tác giả Hạ Quyên:

Cũng trong thời gian ấy, tác giả Hạ Quyên qua loạt bài về Đoàn Viết Hoạt, đã đăng trên báo Tin Tức từ số 75, tháng 11 năm 1998, phát hành tại Paris với cái tựa đề: “Gặp Gỡ Đoàn Viết Hoạt”. tôi xin tóm lược bài viết theo lời kể của Đoàn Viết Hoạt như sau:

“ Gần 1 500 ngày sống trong phòng biệt giam kiên cố, Mỗi ngày ông chỉ nhìn thấy người đưa cơm nước vô cho ông, họa hoằn lắm, hắn mới mở miệng nói! Ngoài khi bị hỏi cung, ông không được tiếp xúc với ai, với bất cứ sinh vật nào.

Có lần cứu một con chim chào mào bị thương bay lọt vào phòng, bầu bạn với với con chim vài ngày, ông cũng bị mất nó vì người cai tù đuổi cho con chim phải bay đi!

Sống một mình với bốn bức tường của phòng giam và bốn bức tường khác rất cao bít quanh cái sân xi măng phía ngoài. Cái nóng khủng khiếp của mùa hè nhiều lần đã làm cháy cả mấy ngọn rau ông trồng trong luống đất bên rìa sân. Những cây rau cải hay vài cây hoa nhỏ trong sân là những sinh vật duy nhất nuôi dưỡng Đoàn viết Hoạt trong bốn năm biệt giam đó. Vợ ông đã gửi cho ông một số hạt rau và hoa để ông trồng vừa có chất tươi ăn, vừa có chút màu sắc sinh động để ngắm nhìn giải trí. Nhìn vào sự tăng trưởng của hoa lá, ông thấy sự sống còn mầu nhiệm.

Nếu tôi không có Thiền và Yoga thì tôi đã chết từ lâu. Tôi rất mang ơn vị thầy đã dạy tôi Duy Thức trong trường Cao Đẳng Phật Học Nam Việt từ những năm 1964-1965”.

Trên đây, là trích đoạn những lời kể của chính Đoàn Viết Hoạt, đã được tác giả Hạ Quyên ghi lại, còn bây giờ tôi xin giải thích như sau:

Vậy, Đoàn Viết Hoạt đừng có kể chuyện ma, mà hãy nghe đây:

Tôi chắc Đoàn Viết Hoạt chỉ nghe người ta kể về con chim chào mào, chứ chưa hề thấy hoặc biết gì về giống chim này. Tôi cho Đoàn Viết Hoạt biết: chào mào là một giống chim có bộ lông đẹp, vàng, đen, đỏ, tía, ở đỉnh đầu có một cái “chốc” nên có nơi gọi là “ chốc mào”, nó chỉ sống nơi có cây cối rậm rạp, bay và đậu trên những cành cây cao, thường làm tổ trên các ngọn cây cao vút, vì thế, nên mới có câu: “ Cun cút bay cao, chào mào bay thấp”. Bởi cun cút cụt đuôi không có lông vũ không bay cao được, còn chào mào thì lại không chịu bay thấp. Nghĩa là những chuyện không bao giờ có, giống chim này cũng không bao giờ ở những nơi không có cây cối, mà trong trại “cải tạo” đã từng giam giữ các vị là Quân- Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa, thì chung quanh trại tất cả cây cối đều phải bị đốn sạch sẽ, để những tên công an tay ghìm súng ngồi ở trên các “ chòi trực chiến” dễ dàng kiểm soát.

Vả lại, giống chim chào mào rất khó nuôi, vì nó chỉ ăn trái cây rừng đã chín, nó thường ăn trái ngón, đặc biệt nó thích trái ráy, một loại cây giống cây khoai môn, có hạt và hình dáng giống trái bắp (ngô), khi chín lại càng giống trái bắp đỏ. Vào thời kỳ đầu của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa quê hương tôi thanh bình lắm, nhà tôi nuôi rất nhiều loại chim, anh tôi thường leo lên ngọn cây cau, bắt những con chim chào mào mới nở để nuôi, nhưng vì tìm trái cây rừng rất khó, nên chẳng bao lâu, khi nào lỡ một ngày không có ăn là nó chết. Con người khi đói có thể ăn bậy để sống, nhưng những con chim chào mào thì nó chịu chết, chứ không bao giờ ăn những thứ gì khác.

Ngoài ra, Đoàn Viết Hoạt cũng cần biết thêm rằng: bất cứ giống chim nào nó cũng chỉ “ bầu bạn” với người chủ đã nuôi nó từ khi mới nở, còn người lạ, chỉ vừa thấy cái bóng, là nó hoảng hốt kêu thét lên và tìm cách trốn, còn con chim chào mào kia, nó từ trong rừng mà chịu “bầu bạn” với Hoạt Kê là chuyện mèo đẻ ra trứng. Hay Hoạt nói vì nó bị thương nặng nên phải nằm im cho Hoạt “bầu bạn”?

Nếu vậy, Đoàn Viết Hoạt muốn nói rằng: con chim chào mào ấy nó bị thương nặng từ trong rừng, mà nó lại bay được từ trong rừng đến trại “cải tạo” gồm có nhiều nhà giam, trong đó có nhiều phòng mở rộng cửa, nhưng nó không bay vào, mà nó đã phải tìm đến cái phòng “biệt giam” của Hoạt, rồi bằng cách nào đó, có thể nó hóa thân thành con muỗi như Tôn Ngộ Không vậy, rồi chui qua cái lỗ thông hơi của phòng “biệt giam” tối mò ấy để “bầu bạn” với Đoàn Viết Hoạt. Nên nhớ, là cửa phòng biệt giam luôn luôn khóa chặt, trong phòng tối om, chỉ có độc nhất một cái lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 7-8 cm, và tù biệt giam không được ra ngoài, trừ những lúc hỏi cung đều có công an dẫn giải.

Như đã giải thích ở trên, thì tôi chắc nhiều người đã biết: chỉ cần một câu chuyện về con chim chào mào thôi, thì nó cũng đủ chứng minh cho những lời láo khoét của Đoàn Viết Hoạt rồi, chưa nói đến những chuyện khác.

Vậy, tôi xin kính mời quý vị cựu tù “cải tạo” hãy đọc lại những lời kể láo khoét của Đoàn Viết Hoạt qua lời tường thuật của tác giả Hạ Quyên:

“ … mấy ngọn rau ông trồng trong luống đất bên rìa sân. Những cây rau cải hay vài cây hoa nhỏ trong sân là những sinh vật duy nhất nuôi dưỡng Đoàn Viết Hoạt trong bốn măm biệt giam đó. Vợ ông đã gửi cho ông những hạt rau và hoa, để ông trồng để có chất tươi ăn, vừa có chút sinh động để ngắm nhìn giải trí. Nhìn vào sự tăng trưởng của hoa lá, ông thấy sự sống còn mầu nhiệm”.

Quý vị cựu tù “cải tạo” vừa đọc qua những lời kể của Đoàn Viết Hoạt. Vậy, có vị tù nào, mà ngày xưa từng ở trong nhà biệt giam mà được nhận những hạt giống của hoa và rau của vợ đã gửi vào, rồi được tự do để trồng hoa, trồng rau để ngắm giải trí chơi, thì xin cho biết, và tôi cũng xin nhắc lại:đồng thời cũng phải có lời giải thích một cách xác đáng và thuyết phục mọi người, chứ không được ngụy biện.

Nhưng chưa hết, mà xin hãy nghe thêm một lần nữa những lời kể của Đoàn Viết Hoạt:

“ Gần 15000 ngày sống trong phòng biệt giam kiên cố. Mỗi ngày ông chỉ nhìn thấy người đưa cơm nước vô cho ông, họa hoằn lắm hắn mới mở miệng nói! Ngoài khi bị hỏi cung, ông không được tiếp xúc với ai, với bất cứ sinh vật nào”.

Cái gì vậy hả Đoàn Viết Hoạt??? Vì với những lời kể của Hoạt ở trên, thì làm sao có được: “ …mấy ngọn rau ông trồng trong luống đất bên rìa sân. Những cây rau cải hay vài cây hoa nhỏ trong sân… và ông trồng để có chất tươi ăn …”

Đấy, quý vị đã thấy Đoàn Viết Hoạt là một tên Đại Láo hay chưa. Bởi Hoạt mới nói:

“Gần 15000 ngày sống trong phòng biệt giam kiên cố. mỗi ngày chỉ nhìn thấy người đưa cơm nước …” Như thế, mà sau đó, Hoạt lại nói đã được nhận những hạt giống của của hoa và rau cải, rồi được tự do trồng hoa, trồng rau, mà hể được trồng hoa trồng rau, thì phải có dụng cụ như cuốc, xẻng và cả gàu để múc nước mà tưới cho hoa, cho rau cải, rồi cũng được tự do đi hái rau rồi đem luộc, nấu, “để có chất tươi ăn” chứ???

Đoàn Viết Hoạt nên nhớ, là quý vị cựu tù “ cải tạo” từng ở “nhà biệt giam” như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, Quận trưởng quận Đức Dục, Quảng Nam, và nhiều vị nữa hiện dang có mặt tại Mỹ đấy Đoàn Viết Hoạt kê ạ. Mà chẳng phải riêng các vị ở trong nhà biệt giam, mà kể cả những người ở trong các trại tù “ cải tạo” cũng không được tự do để trồng rau cải, trồng hoa để ngắm chơi đâu, mà tất cả những người tù cũng đều bị hành hạ từ thể xác đến tinh thần, và lao động khổ sai như nhau, và tất cả không được dùng bất kể một thứ gì bằng kim loại, mà chỉ được nhận của gia đình những vật dụng như: muỗng, chén, bát và thau, nhưng tất cả đều phải bằng nhựa để lãnh cơm, canh do nhà “cấp dưỡng” tức nhà bếp của trại nấu và phát cho từng phòng, chứ chẳng có vị tù nào, dù không bị biệt giam cũng không bao giờ được tự do như của “ người tù 19 năm với 4 năm bị biệt giam” như Đoàn Viết Hoạt cả.

Và để ngụy biện cho cái mặt mập như con heo Thái Lan của “ người tù 19 năm với 4 năm bị biệt giam mới ra tù” nên Đoàn Viết Hoạt đã kể chuyện học Thiền ở “ Trường Đại Học Cao Đẳng Nam Việt” tại chùa Ấn Quang trong thời gian 1964-1965, như vậy, Hoạt là đồng môn với tên cộng sản thứ gộc là Thích Thanh Từ, nên được khỏe mạnh. Nói ngắn gọn là Đoàn Viết Hoạt không có ở tù gì hết, cho dù Hoạt có đến cả ngàn cái “ Giấy ra trại” thì cũng như Nguyễn Đan Quế mà thôi.

Ngoài ra, xin mọi người đừng quên rằng Đoàn Viết Hoạt và cả Nguyễn Đan Quế đã đều chối bỏ lá cờ Vàng ba sọc đỏ trong những lần sinh hoạt với người Việt tỵ nạn VGCS, như khi sang Pháp, Đoàn Viết Hoạt đã không chấp nhận treo cờ vàng, khi bị nhiều người phản đối thì Hoạt đã nói: “ Nếu quý vị muốn treo, thì cứ treo ở phía sau lưng tôi đây”. Tại sao Hoạt lại nói như thế? Xin thưa: vì Nguyễn Đan Quế và Đoàn Viết Hoạt đã quyết định: trước hết phải chọn lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản Hà Nội, rồi sau đó là một lá cờ khác mà chúng đã chọn trước khi Hoạt sang Mỹ, để đổi màu cho đảng cộng sản Hà Nội, và chúng đã có một “ chương trình” cho “Hoạt đi Quế ở”.

Tội ác của Đoàn Viết Hoạt:

Một lần nữa, tôi xin lập lại là tội ác không phải chỉ riêng cho những tên đao phủ, mà cả những tên đã từng đứng đàng sau của những tên đao phủ ấy. Và chính Đoàn Viết Hoạt trong ngày 30-4-1975, đã reo mừng, mở hội, đã cầm đầu hàng trăm tên đặc công từ trong Đại Học Vạn Hạnh và trong các hệ thống trường Bồ Đề trên cả nước, mà bằng chứng hiển nhiên là chính Đoàn Viết Hoạt đã ra lệnh cho đám đặc công này, cầm cờ ngũ sắc của Phật giáo và cờ của “Mặt trận Giải phóng miền Nam” tất cả chúng đều mang băng đỏ, cùng đi công khai phía sau lưng của Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế, và chúng đã ra Ngã Ba Bảy Hiền để đón rước cộng quân vào Thủ Đô Sài Gòn.

Song chẳng phải riêng trong những ngày này, mà suốt trong cả chiều dài của cuộc chiến chống cộng sản xâm lược mà việt-gian cộng-sản làm tay sai, Đoàn Viết Hoạt chưa hề, và không hề làm một việc nhỏ nào để góp một phần vào công cuộc bảo vệ Miền Nam Tự Do. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng: Trong lúc Đoàn Viết Hoạt ung dung ngồi trên chiếc ghế “Phụ tá Viện trưởng “Hòa thượng” Thích Minh Châu: Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Đoàn Viết Hoạt đã từng kết hợp chặt chẻ với Nguyễn Đan Quế, cả cặp đã huấn luyện cho đám sinh viên Vạn Hạnh để trở thành những tên đặc công- biệt động thành Sài Gòn – Gia Định, chúng đã từng xuống đường, biểu tình, hô hào phản chiến, đòi Mỹ rút quân, thì ngoài kia, nơi Quân Trường thì các anh chiến sĩ tương lai đang ngày đêm miệt mài trên “ đoạn đường chiến binh” khó nhọc, để chuẩn bị lao thân vào những vùng đạn pháo, khói lửa mịt mù, để đối đầu với địch quân. Cùng lúc đó, ở những nơi chiến trường đầy gian lao, nguy hiểm, thì các anh Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã và đang băng rừng, lội suối, hoặc phải chịu giá rét dưới những chiến hào ngập nước, và có những ngày hành quân khi đã hết lương thực, nhưng vì đang lọt vào vòng vây của quân địch, mà máy bay tiếp tế không thể thả dù xuống được. Chính vì vậy, mà các anh phải hái những đọt rau rừng để ăn cho đỡ đói, và các anh đã chiến đấu với quân thù trong những ngày đêm đói và lạnh, để rồi có những lần các anh đã ôm xác của đồng đội đã chết, mà lặng người đi, khi buộc lòng phải buông tay, để cho người chiến hữu phải nằm xuống vĩnh viễn nơi rừng sâu biên giới, và những dòng máu đào của người chiến sĩ đã tô thắm cho lòng đất Mẹ, và còn vương lại trên chiếc chiến y của người chiến hữu trong nỗi đau đớn như cắt, như xé tận tâm can, hoặc có những nơi các anh đang dán mắt của mình vào lỗ châu mai, ở trên những tiền đồn, bên bờ kẽm gai cận kề cái chết. Ôi! Các anh đã đem cả máu xương của mình để tận hiến cho Quê Hương, để bảo vệ cho đồng bào ruột thịt của mình và để bảo vệ cho những tên như Đoàn Viết Hoạt- Nguyễn Đan Quế cùng đồng bọn, để chúng được tự do kéo nhau xuống đường biểu tình, phản chiến, đòi Mỹ rút quân. Rồi cho đến ngày 30-4-1975, Đoàn Viết Hoạt là Phụ tá Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh: “ Hòa thượng” cộng sản Thích Minh Châu, Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế đã cầm đầu hàng trăm tên sinh viên của Đại Học Vạn Hạnh, mà trước kia chúng là những tên đặc công của Biệt động thành Sài Gòn – Gia Định, và theo lệnh của Quế và Hoạt bọn chúng đã công khai đi đón rước cộng quân vào Thủ Đô Sài Gòn, rồi sau đó lại tổ chức “ lễ mừng chiến thắng và lễ sinh nhật” của tên tội đồ đại việt gian là Hồ Chí Minh, cũng ở ngay trong Đại Học Vạn Hạnh.

Và tội ác của Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế cùng đồng bọn còn chồng chất cao hơn non Thái, bởi trong lúc Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế cùng lũ đặc công trong Đại Học Vạn Hạnh đã công khai mở hội, reo mừng kéo nhau đi đón rước cộng quân vào thủ Đô Sài Gòn, thì ngoài chiến trường kia đã có Ngũ Tướng đã chết theo thành, đó là các vị tướng: Phạm Văn phú – Nguyễn Khoa Nam – Lê Văn Hưng -Trần Văn Hai – Lê Nguyên Vĩ và Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã bị cộng quân xử bắn, và còn rất nhiều những anh hùng vô danh khác.

Nhân đây, tôi xin kể về hai cái chết của hai vị: một người do chính tôi chứng kiến và một vị do tôi tìm thấy qua một bài báo như sau:

Trước hết, tôi xin kể về cái chết của Đại tá Lân, ông bà là người Bắc di cư vào Nam vào năm 1954, xin lỗi tôi không biết họ của ông, tôi nghe nói là ông phục vụ tại Sư Đoàn 3, tại Hòa Khánh, Đà Nẵng. Nhà của ông bà là tiệm sách Phương Mai: Phương Mai là tên của cô con gái lớn của ông bà, ông bà có hai người con: cô Phương Mai bị bệnh từ nhỏ nên phải đi gậy, cậu con trai kế khoảng 15 tuổi. Tiệm sách Phương Mai đối diện với nhà thờ của Giáo Xứ An Khê, Đà Nẵng, do Linh Mục Đinh Văn Lợi quản nhiệm.

Vào buổi chiều ngày 29-3-1975, sau khi các thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón rước cộng quân vào thành phố Đà Nẵng. Trong lúc đó, tôi đang đi tìm người thân bị thất lạc, khi đi ngang qua tiệm sách Phương Mai, thì bỗng nghe có tiếng khóc từ trong nhà của Đại tá Lân. Tôi liền ghé vào, nhưng thật kinh hoàng khi trước mắt tôi là thân xác của Đại tá Lân, đã chết trong bộ quân phục nằm trên giường, trên cổ của ông là một vết cắt dài và sâu, máu vẫn còn ứa ra từ vết cắt xuống ngực, ướt cả chiếc áo và tràn xuống đến nệm giường. Tôi được gia đình cho biết, ông đã dùng dao phay chặt thịt mà tự tử. Mặc dù vậy, nhưng lúc đó, vì quá sợ lũ Khuôn Hội Phật giáo đang chiếm giữ chính quyền, nên Phu nhân Đại tá Lân và cô Phương Mai đã nhờ một số người thân vội vàng khâm liệm, rồi chôn cất ông trong lén lút và trong đau đớn khôn cùng!!!

Nên nhớ, trong lúc Đại tá Lân đã tự cầm dao để cắt cổ mà chết, thì Đoàn Viết Hoạt – Nguyễn Đan Quế và đồng bọn, chúng đang mừng vui mở hội, bằng cách tập hợp cho lũ đặc công ở trong Đại Học Vạn Hạnh, để chuẩn bị đi đón rước cộng quân vào Thủ Đô Sài Gòn.

Trường hợp thứ hai, tôi xin phép tác giả Hoài Việt để trích lại một bài viết của ông trên Nguyệt San Dân Văn phát hành tại Đức Quốc, đây là một tờ báo mà tôi đã có một thời gian ở trong Ban Biên tập, nhưng rồi anh Huyền Thanh Lữ là Chủ Nhiệm đã nói với tôi: “Những bài viết của chị không sai với sự thật, nhưng khó có thể đăng trên một tờ báo của Việt Nam Quốc Dân Đảng, nên sau đó, tôi chỉ viết cho Văn Nghệ Tiền Phong. Tuy nhiên, những hình ảnh của anh Huyền Thanh lữ và quý vị trong Ban Biên tập khi đến thăm tại nhà của chúng tôi, và những bài “Thư Pháp” bằng chữ Hán, cũng như chữ Quốc ngữ mà chính tay của anh Huyền Thanh Lữ đã viết tặng tôi, thì tôi vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn cho đến hôm nay.

Vậy, tôi xin trích đoạn, và xin kính mời quý độc giả theo dõi về một cái chết của cả gia đình của một vị đó là, Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Thoảng trên Dân Văn số 79 tháng 01 năm 2001, nơi trang số 57, với tựa đề: “Một Lần Chào Cuối Cùng Của Đời Quân Ngũ” như sau:

“10 giờ 30 sáng ngày 29-3-1975. Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ. Trung đội tình báo của của ban 2 vẫn đứng chung quanh tôi để bảo vệ như những lúc hành quân. Trung sĩ nhất Nguyễn Thoảng đến trước mặt tôi đứng nghiêm đưa tay chào một cách trịnh trọng rồi nói:

Chắc em không vào Sài Gòn đâu Thiếu tá. Cả Quân Đoàn không một trận đánh nào mà bỏ đi cả, em thấy chán quá rồi. Em chúc Th/tá nhiều may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.

Cái xác không hồn của tôi vẫn ngồi dựa vào trụ vôi, không chào lại, không bắt tay từ giã nói:

Tao bây giờ không biết tính sao, tao cố gắng đưa đơn vị về tới đây để cùng vào Nam, song không ngờ như thế này, tao rất thương anh em nhưng bây giờ ngoài tầm tay của tao rồi.

Vợ Trung Sĩ Thoảng và hai con, một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi cùng đi với Tiểu Đoàn từ hôm qua; chị ta bước tới trước mặt tôi và nói: Em chúc Th/tá lên đường bình an, vào cho được Sài Gòn nghe.

Tôi đứng dậy xoa đầu hai đứa nhỏ đang đứng cạnh mẹ, có lẽ đó là phản ứng lịch sự với đàn bà, chứ tôi đã có lần đến nhà của chị ta mấy lần rồi nên cũng thường thôi. Tôi nói:

Tôi cũng không biết có đi được hay không, đến đâu hay đó, Thoảng (Trung Sĩ I Thoảng thua tôi 5 tuổi) thì chắc chúng nó không giết đâu vì nó cấp bậc nhỏ là Chiến Tranh Chính Trị, ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.

Cám ơn Th/tá, chúc Th/tá thượng lộ bình an.

Thoảng tiến lên một bước, đưa tay chào tôi lần nữa. Tôi cũng không chào lại, đưa tay bắt và nói:

Thôi mày về đi, tùy tình hình địa phương mà sống, chắc không can chi đâu.

Anh ta đến chào Đại úy Hà thúc Thuyên, Tiểu đoàn phó, Đại úy Lê Ngọc Nhựt Trưởng Ban 2 và Đại úy Hoàng Văn Quý Ban 3, rồi từ giã ra đi.

Đến lúc này, chỉ còn những Sĩ quan đó và khoảng 20 lính của Trung đội Tình báo mà thôi. Còn tôi lại ngồi xuống đất dựa vào trụ vôi. Đại úy Thuyên tới nói:

Thôi, mình cứ về Đà Nẵng rồi hãy tính.

Tôi đang chán nản chưa có quyết định nào dứt khoát thì bỗng nghe một tiếng nổ lớn phía sau nhà tôi đang ngồi. Lính tôi phản ứng, ngồi xuống trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Tôi nói:

Minh, mày ra xem cái gì đó.

Minh đi với hai người lính nữa, sau hơn 5 phút Minh chạy lui, trả lời:

Thiếu tá ơi! Ông Trung sĩ Thoảng đã tự tử bằng lựu đạn với vợ con của ông ta rồi.

Tôi quá bàng hoàng và xúc động, tự nhiên bật khóc. Tôi đã đứng trước hàng trăm cái chết, sự rên la đau đớn, sự nhắn gửi trối trăn của thuộc cấp sắp chết, mặc dù tôi rất xúc động, tôi cũng có trái tim biết đau khổ, nhưng tôi tự kiềm chế không bao giờ khóc, nhiều lắm là đỏ con mắt. Tôi cố gắng kiềm chế không để cho thuộc cấp biết sự mềm yếu về tình cảm của tôi. Thế mà hôm nay tôi lại bật khóc, có lẽ đây là lần khóc đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong 13 năm quân ngũ của tôi đối với thuộc cấp. Tôi nói:

Nó chết ở đâu?

Ổng chết ở nhà kia.

Theo tay chỉ của Minh, thì sau căn nhà tôi đang đứng cách một cái nữa. Tôi đi theo Minh, 6 người lính bảo vệ tôi cùng theo.

Căn nhà tôn nhỏ, xây vách chung quanh. Một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt tôi. Bốn thi hài không toàn vẹn, một xách áo quần, mền, còn để lại trong một góc của căn nhà, máu đang chảy, thịt tung tóe dính cả vào tường.

Tôi không nói gì, quan sát và đứng nghiêm chào vĩnh biệt 4 anh hùng rồi ra đi. Các binh sĩ theo tôi cũng bắt chước chào rồi đi ra đường. Người lính đi theo sau tôi nói:

Ông Thoảng và vợ ông là Việt Nam Quốc Dân Đảng đó Th/tá.

Tôi cũng biết Tiểu Đoàn này 2/3 là cựu Biệt Kích Quân Tây Hồ, hoàn toàn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, chống cộng thứ thiệt mà.

Bây giờ là 11 giờ ngày 29-3-1975. Một Trung Sĩ cấp bậc quá nhỏ so với tôi, một thuộc cấp mà trước đây tôi đã từng gọi bằng « thằng », một phần vì anh ta nhỏ tuổi hơn tôi, phần khác vì gọi như thế cho thân mật, có những lỗi lầm mà tôi đã rầy la, đôi khi nặng lời nữa, thế mà hôm nay tôi phải gọi bằng ÔNG. Ông Thoảng, với lòng tôn kính, vì đây là một vị anh hùng hơn tôi rất nhiều, ít nhất là lòng can đảm, sự thể hiện bất khuất không thể sống chung với cộng sản.

Hôm nay, tôi viết để vinh danh một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cho con cháu sau này biết đến.

Xin nghiêng mình tôn vinh một vị anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa.

Với tinh thần đó, tôi muốn viết lên sự tuẫn tiết của Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Thoảng cùng vợ con của anh trong ngày 29-3-1975 tại Đà Nẵng.

Hai giờ chiều ngày 29-3-1975. Việt cộng đã treo cờ ở Tòa Thị Chính Đà Nẵng ».

Quý độc giả vừa được biết qua về cái chết của cả gia đình của Ông – Bà Trung Sĩ Nhất Nguyễn Thoảng cùng hai đứa con thơ. Ôi! Quân lực Việt Nam Cộng Hòa không phải chỉ có các vị Sĩ Quan cấp Tướng, cấp Tá mà ngoài Ông bà Nguyễn Văn Thoảng, không ai có thể biết được là còn có bao nhiêu người nữa, đã chết tức tưởi trong thời gian trước và sau ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội?!

Vậy, xin mọi người hãy ghi nhớ, và mãi mãi đừng quên rằng: Cũng vào giờ phút ấy, lúc Trung Sĩ Nhất Nguyễn Thoảng cùng vợ và hai đứa con thơ đã tan tành da thịt, máu chảy thành dòng, thì cũng là lúc Đoàn Viết Hoạt – Nguyễn Đan Quế và đồng bọn, chúng đang reo mừng, mở hội trong lúc tập hợp lũ đặc công ở trong Đại Học Vạn Hạnh, và đã ra lệnh cho cả bè lũ này phải chuần bị tay mang băng đỏ, cầm cờ ngũ sắc của Phật giáo và cờ của « Mặt trận Giải phóng miền Nam » để cùng nhau đi đón rước cộng quân vào Thủ Đô Sài Gòn vào ngày 30-4-1975.

Nhưng rồi bao nhiêu năm qua, những tên như Nguyễn Đan Quế – Đoàn Viết Hoạt và còn nhiều tên nữa, chúng đều là những tên tội đồ của Dân Tộc, song chúng vẫn đã và đang tiếp tục lừa bịp đồng bào ở trong và ngoài nước, bằng những thủ đoạn khác nhau. Xin mọi người hãy tỉnh táo, hãy thẳng tay vạch mặt tất cả những tên đã một thời trưởng thành dưới những mái học đường của Miền Nam Tự Do, chúng đã được sống an bình tại các thành phố, trên máu xương của các anh Chiến Sĩ. Nhưng chúng đã vô lương, tàn ác, bất nhân vì chúng đã từng đâm xuyên vào từ phía sau lưng của những Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, bằng những ngọn giáo nhọn hoắt, oan khiên và tàn độc nhất.

Và hôm nay đây, chúng ta là những người may mắm còn sống được sau ngày nước mất, nhà tan, chúng ta không thể nào an nhiên tự tại, mà quên đi được hình ảnh của các bậc Anh Hùng đã Vị Quốc Vong Thân, suốt cả chiều dài của cuộc chiến chống cộng sản xâm lược trong mấy chục năm qua. Chúng ta luôn luôn phải ghi nhớ rằng: Chúng ta vẫn còn nợ với những dòng máu thiêng của những Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những dòng máu thắm đã tưới chan hòa trên khắp nẻo đường của đất nước Việt Nam.

Xin mọi người hãy cùng nhau quyết tâm tự nguyện đi làm những người phu của công viên. Nghĩa là chúng ta sẽ moi từng gốc cây, bụi cỏ để tìm đào tận gốc những cây gai độc hại, tận diệt từng con sâu đến cái trứng, quét hết rác rưởi tanh hôi, đốt sạch không còn vết tích. Để trong công viên chỉ còn lại những cây lá thơm lành được đơm hoa kết trái.

Hàn Giang Trần lệ Tuyền.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_TheNaoLaTuCaiTao2.htm

súc vật nguyễn minh triết chém gió ở Cuba

suc-vat-nguyen-minh-triet-suc-vat

súc vật nguyễn minh triết chém gió ở Cuba:

súc vật nguyễn minh triết nói:
- Có người ví von: “Việt Nam, Cuba như là Trời Đất sinh ra. Một anh ở phía Đông. Một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới. Cuba thức thì VN ngủ. VN gác thì Cuba nghỉ.”

http://www.youtube.com/watch?v=gGhS2HceriU

http://www.youtube.com/user/businesshoa208

October 22, 2009

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn – Shinra – Hoangsa.org

cung-boi-thang-dan-ngu-qua-lon

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn – Shinra – Hoangsa.org

Khỏi mất thời gian của quý vị, xin nói mấy lời chân tình.

Quý vị có biết vụ tẩy trứng gà Tàu thành trứng gà ta không? Quý vị có suy nghĩ như thế nào?

Nếu hỏi quý vị một câu rằng nếu quý vị là một người dân thuộc làng Đông Ngàn, quý vị có tham gia vào cái việc tẩy trứng rồi đem đầu độc lại đồng bào của các vị không, thì chắc 100% quý vị ở đây trả lời là không. Nhưng kỳ thực là quý vị đang làm những việc tệ hại hơn nhiều so với việc ấy.

Quý vị có bao giờ thấy người dân các nước “tư bản thối nát” “theo đuôi Mỹ” như châu Âu, Nhật, hàn Quốc người ta làm những cái trò đồi bại như tẩy trứng bằng axit, trộn melamin vào sữa, bơm hoá chất vào rau quả, quết mật ong giả vào chân gà thối…. để đem đầu độc chính dòng giống của họ không? Tuyệt nhiên là không.

Những vị nào đọc đến đây mà bảo tôi là “rân chủ”, “ăn phải bã của tư bản”, thì mời quý vị khỏi đọc nữa, đỡ mất thời gian của quý vị.

Quý vị có bao giờ nói hàng Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn, Thái là rởm, là đểu, là lừa đảo, là chạy theo đồng tiền… không? Hay là quý vị lùng sục mua bằng được những món đồ sản xuất ở những nước “tư bản thối nát” ấy với giá đắt gấp đôi gấp ba so với hàng của Trung Quốc?

Quý vị có thể không tẩm chất độc vào trứng, vào rau như những người nông dân kém hiểu biết, nhưng quý vị lại tẩm chất độc vào đầu óc của những con người xung quanh quý vị bằng những lời dối trá, hối lộ, chạy chọt để được vinh thân phì gia. Dần dần, mọi người trong xã hội đều chạy theo quý vị với một suy nghĩ cực kỳ lệch lạc rằng “mình không làm ắt sẽ có người khác làm”.

Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị lại có tác động ngược trở lại kinh tế.

Một xã hội mà ai cũng chỉ biết lo cho bản thân mình như xã hội Việt Nam, xã hội Trung Quốc thì có đáng được gọi là “xã hội chủ nghĩa” không?

Các vị có hiểu thế nào gọi là “xã hội chủ nghĩa” và “tư bản chủ nghĩa” không? Các vị hiểu “XHCN” tức là có đảng cộng sản lãnh đạo còn “TBCN” là có nhiều đảng thay nhau lãnh đạo, hoặc là “nhiều đảng tư sản thay nhau lãnh đạo” phải không? Sai lầm.

Xã hội chủ nghĩa là đặt xã hội lên đầu, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, nó đối lập với tư bản chủ nghĩa nơi mà “tư bản” được đặt lên đầu, mà tư bản chính là “tiền nằm trong lưu thông”, hay nói tóm lại “tư bản” là lợi ích cá nhân. Theo Hán Việt “tư bản” nghĩa là “vốn”.

Một xã hội như Mỹ, Nhật là nơi mà con người luôn sống vì lợi ích riêng, nhưng không chà đạp lên lợi ích chung.

Người Nhật không bao giờ tẩm thuốc kích thích vào rau quả vì họ biết làm như thế sẽ gây hại cho những người đồng bào của họ, họ cũng không xuất khẩu những đồ kém chất lượng vì nó sẽ gây hại đến những đồng loại của họ, dù là người nước ngoài. Người Nhật có thể tự sát, kết thúc sinh mệnh của mình, để bảo toàn danh dự cho gia đình, cho dòng tộc của họ.

Một xã hội như Việt Nam, Trung Quốc là nơi con người miệng thì nói rằng “vì lợi ích tập thể”, “xã hội chủ nghĩa”, nhưng tay và chân thì chà đạp giày xéo lên người khác. Hãy nhìn thử một vụ tắc đường ở Việt Nam và một vụ tắc đường ở Thái Lan thì biết.

Vậy ở đâu mới xứng đáng là xã hội chủ nghĩa?

Đó là một điều mà tôi muốn nói với quý vị.

Các vị nói rằng ngày xưa dù nghèo khổ nhưng Việt Nam vẫn kiên cường chống lại hai đế quốc to. Điều này là đúng và theo một nghĩa nào đó, thì đáng tự hào.

Nhưng các vị lại nói ngày nay để được hoà bình, hay nói toẹt ra là để các vị được yên ổn làm ăn, yên ổn kiếm tiền, thì Việt Nam cần mềm dẻo với Trung Quốc, cho dù trên thực tế và trên tuyên bố, Trung Quốc đã và đang chiếm nhiều đất của chúng ta.

Vậy theo cái lý ngày xưa của quý vị thì đáng ra Việt Nam phải vùng lên đánh lại Trung Quốc, hoặc theo cái lý ngày nay của quý vị thì đáng ra ngày xưa Việt Nam không nên đánh lại Pháp và Mỹ mới phải.

Nhưng sự thực thì quý vị luôn tự hào về ngày xưa và đớn hèn về ngày nay. Chẳng có cái lý nào ngoài cái lý tiền. Các vị sợ đánh nhau với Trung Quốc thì con cái các vị phải ra trận, hoặc ít ra thì khi có chiến tranh, việc làm ăn kiếm tiền của các vị sẽ khó khăn hơn. Tóm lại các vị chỉ biết có bản thân mình, các vị cá nhân chủ nghĩa ở trình độ cao cấp.

Đó là cái thứ hai tôi muốn nói với các vị.

Các vị khi thì hô hào “Việt Nam là bạn với thế giới”, khi thì hô hào “Việt Nam phải cảnh giác với Mỹ, Âu, Tàu, Nhật”. Như thế là cái lý gì?

Vì cái tư tưởng lúc nào cũng thù với hận của các vị, nên các vị không bao giờ thật lòng giao hảo với bất cứ ai. Các vị bắt tay người nước ngoài khi họ đến mang theo đô la và các vật dụng đắt tiền cho các vị hưởng, nhưng các vị lại vênh mồm lên chửi khi họ chỉ ra những cái sai lầm của quý vị. Quý vị biện luận rằng trong quan hệ quốc tế thằng nào cũng chỉ lợi dụng lẫn nhau thôi. Vậy thì người ta sẽ nghĩ về quý vị đúng như thế. Thuỵ Điển, Na Uy hàng năm cho không Việt Nam hàng triệu đô la và nhiều chương trình đào tạo phát triển, họ lợi dụng gì quý vị? Hay là quý vị nghĩ rằng họ chẳng qua muốn lấy lòng quý vị nên mới thế? Vậy nghĩ xem quý vị đã là cái thá gì mà người ta phải lấy lòng?

Quý vị thử chìa tay ra cho một người, rồi biết được người ấy lúc nào cũng nhăm nhăm “cảnh giác cao độ” với cái chìa tay của quý vị, thì quý vị sẽ nghĩ gì về người đó?

Đầu óc quý vị quá đen tối và nói thẳng ra quý vị cũng suốt ngày tìm cách lợi dụng người khác nên mới nghĩ cho người khác đen tối như thế.

Vì thế nên Việt Nam ta mới tụt hậu so với nước ngoài như hôm nay. Những quốc gia như Nhật, Hàn, Thái Lan vốn có điểm xuất phát không hơn ta là mấy nhưng nay họ đã vượt ta nhiều, đó là vì sao? Vì họ có tầm nhìn hơn chúng ta. Vì họ hiểu được một lý thuyết cơ bản nhất của thương mại đó là cả hai bên cùng có lợi, họ không bao giờ bắt tay với người khác mà trong bụng thì cứ nơm nớp lo người ta “lợi dụng” mình. Suy nghĩ kiểu như thế chỉ tồn tại trong những bộ óc chưa tiến hoá hết từ vượn sang người.

Nói thẳng ra, các vị là những kẻ hám tiền, lo cho lợi ích của cá nhân và cùng lắm là gia đình mình, là hết. Các vị ưa xiểm nịnh, khi báo Washington Post đưa tin rằng nền kinh tế Việt Nam đang cất cánh thì quý vị tung hô tờ báo ấy như là chuẩn mực của sự trung thực, còn khi cũng báo Washington Post đưa tin về tham nhũng của Việt Nam thì các vị nói họ đưa tin không chính xác. Cái thái độ lá mặt lá trái ấy cũng đúng trong trường hợp người ta nói về “kẻ thù” của quý vị, ví như việc Ân Xá Quốc Tế lên án Mỹ vi phạm nhân quyền và cũng lên án Việt Nam với tội danh tương tự.

Đây là điều thứ ba tôi muốn nói với quý vị.

Điều thứ tư nghe sẽ hơi sốc: nói thẳng ra là quý vị cực ngu.

Quý vị không tin vào các thông tin “lề trái”, tức là những thông tin trái ngược với báo chí chính thống và những tuyên bố chính thức của Việt Nam. Nhưng bản thân quý vị đang sinh hoạt ở một diễn đàn có tên miền quốc tế, đã hoạt động được hơn 2 năm nhưng ngân khoản duy trì sự tồn tại của nó vẫn là từ tiền của cá nhân những con người đáng trân trọng đã lập ra website này. Tại sao website này không thể có đuôi .vn và cũng không thể đăng quảng cáo được, quý vị nếu đủ thông minh thì đã nghĩ ra từ lâu rồi.

Quý vị quy kết tất cả những lời nói, bài viết của người khác là “phản động” “chống lại Việt Nam”, “bán rẻ tổ quốc” chỉ vì những người ấy không có tư tưởng giống như quý vị. Quý vị bỏ ngoài tai mọi lời phân tích không theo ý kiến của quý vị, quý vị biến một diễn đàn trao đổi tri thức thành một cái chợ để cãi nhau và sỉ vả nhau bằng những từ như “thằng chó”, “con lợn”, một cách tự nhiên không biết ngượng mồm. Nếu vậy quý vị mất thời gian lên diễn đàn làm gì? Sao không trùm chăn lại tự nói cho xong?

Quý vị gọi người khác là “chống lại đất nước” bởi vì họ chống lại suy nghĩ của quý vị, như thế khác gì quý vị tự coi mình là đại diện của nước Việt Nam? Quý vị tự cho mình là người phát ngôn của chính phủ Việt Nam, hay ngắn gọn, quý vị chính là Việt Nam?

Quý vị kêu gọi người ta “cảnh giác với những âm mưu gây chia rẽ”, nhưng lại không nhận ra rằng chính cái lời kêu gọi ấy của quý vị là một âm mưu gây chia rẽ. Nếu quý vị muốn sống tốt với hàng xóm của mình, ắt quý vị không bao giờ bắc loa giữa phố mà rằng “hãy cảnh giác với thằng A, con B, hàng xóm của tôi, chúng nó đang âm mưu chia rẽ”.

Quý vị ngu lắm.

Muốn đất nước phát triển được, hãy thôi mò mẫm và ảo tưởng trong cái thế giới độc tôn của quý vị, hãy tỉnh táo trước những khẩu hiệu, hãy đi vào bản chất thay vì hô hào bên ngoài, hãy lắng nghe xem người khác nói thế nào, và hãy chân thật trong mọi mối quan hệ.

Nhưng tôi không vọng tưởng rằng một ngày nào đó quý vị sẽ thay đổi. Quý vị sẽ mãi mãi là người dân của một đất nước tụt hậu, tham nhũng, ô nhiễm và không được bạn bè quốc tế coi trọng.

Đến đây chợt nhớ câu nói của cụ Tản Đà:

“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn…”

Gửi một số quý vị trong diễn đàn, ai đọc thấy không phải mình thì tức là không phải đối tượng mà tôi nói đến.

Shinra – Hoangsa.org

NB Việt Thường- KN 2000 ngày 19 tháng 10-2009

nb-viet-thuong

NB Việt Thường- KN 2000 ngày 19 tháng 10-2009:

1-Những điều khó khăn ở trong nước như Lũ Lụt Miền Trung, có những vùng hiện nay vẫn còn bị cô lập không có người vào cung cấp thức ăn, thực phẩm. Có những nơi nạn nhân chỉ được phát 4 gói mì cho một gia đình nên họ không có đủ ăn. Lý do nào chính quyền Cộng Sản Việt Nam chuyển qua Philipine 250,000 tấn gạo sớm hơn 2 tháng thay vì dùng lúa gạo tiếp tế cho nạn nhân vùng bão lụt ? Đối với người am tường chính trị đều hiểu chuyện, đối với người dân bình thường họ cần sự giải thích là tại sao nhiều nạn nhân vùng lũ lụt bị bỏ đói một cách thảm thương?

2-Bùi Trọng Cường mua một khối ngọc lớn 30 tấn trị giá 1,5 triệu đô la và sẽ chí phí 800,000-1 triệu đô la để khắc tượng Phật ngọc. Việt gian Cộng Sản Lê Khả Phiêu đích thân đi đến đó mở niêm phong. Tại sao các lãnh đạo Cộng Sản không đích thân đi thăm các nạn nhân thiên tai lũ lụt trong 20 ngày qua? Làm sao Việt Nam có thể đứng ngang hàng với các quốc gia khác trên thế giới khi họ không đáp ứng cho nhu cầu của nạn nhân Lũ Lụt Miền Trung ?

3-VGCS Hoàng Trung Hải khánh thành đập A Vương năm 2008, sau khi Đập A Vương xã lũ 2 ngày chôn lấp 3 làng trong bùn cao 1,5m- 2m. Tại sao công ty A vương,, “chính quyền” Việt gian Cộng Sản, và tập đoàn công binh của ông Đại tá Việt gian Cộng Sản xây cất đập không chịu trách nhiệm ? Miền trung có 75 hồ và đập nhân tạo dã xây xong, và theo hoạch định sẽ hoàn tất 130 hồ đập thủy điện tại vùng này mà không có chương trình xây hồ thoát nước. Lú lụt sẽ đe dọa hàng ngàn dân trong vùng như những trái bom treo trên đầu nhân dân Miền Trung. Đây có phải là kế sách của Tàu tàn phá, tiêu diệt nhân dân Việt Nam mà không cần súng đạn ?

4- Cộng Đồng người Việt Tị Nạn Việt gian Cộng Sản có nhiều cuộc họp mặt, họp báo của nhiều hội đoàn, đảng phái như phong trào “trăm hoa đua nở” và những bài viết Tú Gàn chê trách, bôi bác Đệ I, Đệ II VNCH. Là ký giả Miền Bắc, xin ông Việt Thường cho biết cái nhìn của Miền Bắc về TT Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu?

5- Đài VNHN nằm trong tầm ngắm của Tòa Đại Sứ Việt gian Cộng Sản , sau sự ra đi của Ông/Bà Lưu Lệ Ngọc và Dương Văn Hiệp mục đích của Tòa Đại Sứ Việt gian Cộng Sản còn ẩn dấu những gì?

6-Bùi Diễm liên quan đến Tiểu Diên Hồng của Hoàng Minh Chính, hội thảo bàn tròn trên đài SBTN ( Sinh Bắc Tử Nam) với Bùi Tín, Nguyễn Chí Thiện. Bùi Diễm được xem là kế thừa Đảng Đại Việt của Hà Thúc Ký, Bùi Diễm có được tín nhiệm không ?

7- Quan diểm của NB Việt Thường về bài viết “ Cũng Bởi Thằng Dân Ngu Như Lợn” của Shinra.

NB Việt Thường- KN 2000 ngày 19 tháng 10-2009 from sucvathochiminh on Vimeo.

October 20, 2009

công an súc vật nguyễn tấn dũng khốn nạn mất dạy chó đẻ cướp đất giáo xứ Loan Lý

cong-an-suc-vat-nguyen-tan-dung-khon-nan-mat-day-cho-de-cuop-dat-giao-xu-Loan_Ly

công an súc vật nguyễn tấn dũng khốn nạn mất dạy chó đẻ cướp đất giáo xứ Loan Lý

http://www.youtube.com/watch?v=5ooIWzeMx4k

http://www.youtube.com/user/sucvathochiminh

October 19, 2009

Cai Ac Cua Ho Chi Minh – Devil Nguyen Sinh Cung

October 18, 2009

suc vat nguyen tan dung va tay sai khon nan mat day cho de dan ap dan oan Quang Ninh

suc vat nguyen tan dung va tay sai khon nan mat day cho de dan ap dan oan Quang Ninh


Dân Oan Quảng Ninh Bị Cộng Sản Đàn Áp 1/2

http://www.youtube.com/watch?v=oYbqAwCMJoE


Dân Oan Quảng Ninh Bị Cộng Sản Đàn Áp – 2/2

http://www.youtube.com/watch?v=7sQCuUhSicY


http://www.youtube.com/user/vietnamexodus

Next Page »

Blog at WordPress.com.