TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC (1/2)

TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC

[1/2].- AI ĐÃ RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO TẠI HUẾ : TẾT MẬU THÂN, 1968 ; VÀ TẠI ĐÀ NẴNG TỪ 29-03 ĐẾN 30-04-1975 ?

HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

img47a089aaf07c7

Vừa qua tôi đã đọc tất cả những loạt bài viết về cuộc thảm sát tại Huế, Tết Mậu Thân, 1968 ; của các tác giả , trong đó có Tác giả Liên Thành, Cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế, và của Tác giả Trần Gia Phụng trên Trang điện tử vnfa.com.

Về Tác Giả Liên Thành, thì không ai có thể phủ nhận được những điều Ông đã viết về «Thầy tu Thích Đôn Hậu » đã được một người mang tên Hoàng Tố Loan ở trong chùa Từ Đàm, tên này đã có một đứa con với một ni cô trong chùa. Và chính Hoàng Tố Loan đã đưa Thích Đôn Hậu và đồng bọn chạy ra chiến khu của VC, qua loạt bài « Biến Loạn Miền Trung » vì Ông là một chứng nhân qua những cuộc thảm sát tại Huế.

Về Tác Giả Trần Gia Phụng qua chương : « Tàn Sát Thiên Chúa Giáo ». Ông đã viết :
« … Khi mới vào Gia Hội, cộng quân ra lệnh mọi nhà phải treo cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Dân chúng không có cờ MTGP, nên cộng quân ra lệnh treo cờ Phật giáo ( Don Oberdorfer, sđd. 225). Đây là một âm mưu của cộng sản : Cộng quân dư biết dân chúng sống dưới chế độ Miền Nam không thể có cờ MTGPMN mà vẫn ra lệnh treo cờ Mặt Trận nầy, rồi lấy lý do không có cờ MTGP mới đổi qua cờ Phật Giáo, cộng quân sẽ biết nhà nào theo Thiên Chúa Giáo. Vì những gia đình theo Đạo Thiên Chúa làm gì có cờ Phật Giáo mà treo ? ».

Thực ra, ít ai biết đến một sự thật là vào Tết Mậu Thân 1968, trong lúc Việt cộng đã kiểm soát được Thành phố Huế, nên khi các vị đã thấy cờ của Phật giáo được treo trên khắp đường phố, thì các vị cứ tưởng rằng Việt cộng đã ra lệnh treo cờ Phật giáo. Nhưng mọi chuyện hoàn hoàn không như các vị đã nghĩ. Còn riêng tôi, tôi không phải chỉ viết mà đã thấy tận mắt những kẻ đem cờ Phật giáo treo tràn ngập tại thành phố Đà Nẵng, và đã đứng bên cạnh những người tay cầm loa phóng thanh, mồm không ngớt kêu gọi mọi người hãy treo cờ Phật giáo từ ngày 29/3/1975, cho đến ngày 30/04/1975, tại thành phố Đà Nẵng. Cũng như tôi đã chứng kiến qua những cuộc thảm sát mà Phật giáo Ấn Quang đã gọi là những « cuộc đấu tranh » đến nỗi Trời long, đất lỡ !!!

AI ĐÃ RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO ?

Tôi sinh ra và trưởng thành trong một gia đình có Đức Tin, tôi tuyệt đối tin vào Đấng Toàn Năng, tức Ông Trời của người Việt Nam. Bởi vậy, khi đặt bút viết, hoặc khi nói một điều gì là tôi đã tự đặt mình như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng. Vì thế, tôi không bao giờ viết hay nói một điều gì sai với sự thật cả.

Tôi đã sống qua những ngày tháng kinh hoàng nhất tại Đà Nẵng . Đặc biệt, là những ngày cuối cùng trước khi ĐN rơi vào tay của cộng sản. Tôi đã nghe lời kêu gọi của HT Thích Đôn Hậu phát đi từ « Đài Phát thanh Giải phóng » và được truyền thanh tại chùa Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm ĐN, đã phát ra lời kêu gọi của « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu như sau :

« Tôi Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đại diện Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam – Đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam,- và Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất miền Vạn Hạnh ( miền Trung). Tôi long trọng tuyên bố : Kể từ giờ phút này, GHPGVNTN đã hoàn thành sứ mạng của lịch sữ. Vì vậy, tôi yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo, nếu nhà nào không có, thì hãy đến mua tại các chùa, để chào mừng cách mạng đã thành công và cũng để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ».

Tại Đà Nẵng vào thời điểm ấy, khi nghe những lời kêu gọi của « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu như trên, mọi người ai cũng hiểu là « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu vừa kêu gọi vừa cảnh cáo ngầm rằng « … để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ». Nghĩa là : Ai không treo cờ Phật giáo là chống cộng sản.

Vì thế, nên nhiều người bình thường họ chỉ thờ cúng ông bà hoăc Khổng giáo ; song vì muốn yên thân nên đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ nhưng cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

b] TẠI SAO THÍCH ĐÔN HẬU RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO ?[/b]

Bởi Thích Đôn Hậu đã từng được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được Hồ Chí Minh tin cậy và nhất là đã « lập nhiều chiến công dâng Bác » nên đã cậy vào những « công lao » to lớn ấy lại thêm « phật tử » đông đão, nên Thích Đôn Hậu nhất định phải tóm thâu hết mọi quyền hành trong tay. Như mọi người đã thấy, ngay Võ Nguyên Giáp mà cho đến nay sắp chết rồi, Việt cộng mới chuẩn bị vinh danh sáu mươi năm làm tướng và trao « Ấn kiếm » tượng trưng ; song suốt sáu mươi năm làm tướng mà Võ Nguyên Giáp cũng chỉ có hai cái phần thưởng là : Huân Chương Sao Vàng và Huân Chương Hồ Chí Minh. Còn Thích Đôn Hậu cũng được Hà Nội ban thưởng : Huân Chương Hồ Chí Minh ngang bằng với Võ Nguyên Giáp. Ngoài ra, Thích Đôn Hậu còn có Huân Chương Độc Lập- Huân Chương Vì Sự Nghiệp Đại Đoàn Kết Toàn Dân, cộng thêm với quá nhiều chức tước mà tôi đã kể qua trong bài Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân.

Chính vì thế, nên Thích Đôn Hậu muốn tranh và cướp quyền với cộng sản Hà Nội. Chính Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho các « chùa » phải sắm sẵn nhiều cờ để đem ra treo tràn ngập tại Huế. Bởi Thích Đôn Hậu đã tưởng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không tái chiếm nỗi thành phố Huế, để nói với dân miền Nam rằng : Phật giáo Ấn Quang đã chiến thắng. Để mọi người kể cả cộng sản Hà Nội cũng phải thần phục, vì Việt Nam có đến tám- chín mươi phần trăm là Phật tử (ma). Nhưng, Thích Đôn Hậu và cả Phật giáo Ấn Quang đã không lượng được tài sức của mình, có lẽ vì thấy đã từng « thành công » qua những cuộc bạo loạn đầy máu lữa tại miền Trung, nên cứ tưởng rằng cũng sẽ áp đảo được việt cộng trong biến cố Mậu Thân, 1968 tại Huế. Nhưng Thích Đôn Hậu và cả Ấn Quang đã lầm ; vì cộng sản Hà Nội chúng cao tay hơn nhiều, nên những ngày đầu khi Thích Đôn Hậu ra lệnh treo cờ Phật giáo tại Huế , thì Việt cộng đã thấy rõ mưu đồ của Phật giáo. Vì thế, Việt cộng đã ra lệnh phải hạ cờ Phật giáo ngay, và treo cờ của « Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam ».

Nhưng cuồng vọng ấy Phật giáo Ấn Quang cũng không từ bỏ, nên từ ngày 29/03/1975 đến 30/04/1975 tại Đà Nẵng ; Thích Đôn Hậu cũng ra lệnh treo cờ Phật giáo và Ra lệnh cho Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Hòa phải đến trình diện tại chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, là « Trụ sở Ủy ban Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng » , rồi cũng cấp giấy trình diện cho các vị ấy, để rồi sau đó Phật giáo Ấn Quang đã bị những cán bộ cao cấp của đảng cộng sản như : Hoàng Châu Ký, Hoàng Văn Lai, Trần Thận … chửi như tạt nước vào mặt cũng tại chùa Pháp Lâm này. Người dân Đà Nẵng vẫn nhớ vào ngày 18/05/1975, chính Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho đồng bào tại Đà Nẵng và các vùng lân cận : « Mỗi gia đình ít nhất phải có một người để cầm đèn đuốc đi diễn hành trong đêm 18 rạng ngày 19/05/1975, để mừng sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc » ; mà tôi đã viết qua trong bài 30/4/1975, Máu Và Nước Mắt.

Song những bài học xương máu ấy, vẫn không làm cho Phật giáoẤn Quang chịu từ bỏ cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Mặc dù mỗi ngày những Phật tử chân chính họ càng thêm sáng suốt, họ nhận ra những hành vi của các « thầy ». Vì vậy, mà một số đông khi vào tù cải tạo của việt cộng, trong những tháng năm dài bị hành hạ, khổ đau trong lao lý họ đã suy nghiệm được tất cả, ;và họ đã quyết định tu tâm, tu tại gia chứ không dám tới chùa chiền nữa. Một số đông các vị đã trở thành những tín hữu TCG, trong đó có Trung tá Nguyễn Tối Lạc, Quận trưởng quận Đức Dục, Ông đã xin ba vị Linh Mục đó là : Linh Mục Vũ Dần- Linh Mục Tống Kiên Hùng và Linh Mục Đặng Đình Canh để được học giáo lý ngay trong nhà biệt giam 2.79 ( Đồng Mộ ), Tiên Phước, Quảng Nam.

Chẳng những thế, mà giờ đây tại Đà Nẵng, ngay những Phật tử mà trước đây họ từng nghe lời xúi dục của các « thầy », họ đã lên với xuống đường, từng là « Thanh niên Phật tử quyết tử … » . Nhưng giờ đây, chẳng những họ không đến chùa, mà họ còn đem tất cả các bài học xương máu của ngày xưa để kể lại cho con cháu nghe, và khuyên con cháu họ đừng bao giờ đến chùa , vì họ sợ con cháu của họ sẽ rơi xuống vực sâu của tội ác.

Và cũng chính vì thế, tôi muốn nói với các thầy, thôi đừng mơ mộng đến một cuộc đấu tranh cái kiểu bê bàn Phật xuống để đầy đường như mùa hè 1966. Đừng kêu gào đến dân oan vô ích, bởi những người đó nếu quả họ có oan thì họ cũng chỉ đòi hỏi sự công bằng, chứ chẳng có ai đi tranh đấu để tranh quyền, đoạt lợi dùm cho các thầy đâu. Không phải bây giờ, mà cả sau này không còn cộng sản, hay cho đến muôn nghìn kiếp sau cũng vậy.

[LỰC LƯỢNG HÒA HỢP-HÒA GIẢI : KHỦNG BỐ VÀ GIẾT NGƯỜI.

Như mọi người đã thấy, hầu hết các cuộc tấn công của cộng quân tại miền Nam là các « thầy » đều biết trước và chuẩn bị mọi sự một cách chu đáo, trong đó phải có sẵn thật nhiều cờ Phật giáo ở các « chùa ». Để rồi dưới ngọn cờ ngũ sắc kia là cả một đoàn quân với sắc mặt lạnh lùng, đằng đằng sát khí, chỉ biết khủng bố và giết người, không hề biết động lòng xót thương trước những lời khẩn cầu của những người mẹ, người vợ và những đứa con thơ dại đang quỳ dưới chân họ vừa khóc, vừa lạy, để xin tha mạng cho chồng, cho con của họ!!!

NGÀY GIỖ THỨ 33 CỦA CÁC NẠN NHÂN ĐÃ CHẾT DƯỚI BÀN TAY CỦA PHẬT GIÁO THÔNG NHẤT (ẤN QUANG). .

Đến đây, nhân ngày giỗ lần thứ 33 của các nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của « Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo » tại Đà Nẵng. Tôi xin phép các bậc phụ huynh cho tôi được nhắc lại những cái chết của các vị ấy kể từ ngày 29/03/1975 đến 30/04/1975 :

Trước hết là Thiếu tá Trần Quốc Dân, trước năm 1954, ông ở trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc giữ cấp bậc Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, Trung đoàn phó là Nguyễn Chơn. Năm 1962, Trung doàn Sao Vàng vào Nam, khi bắt được sự liên lạc lạc với một người của Ông Ngô Đình Cẩn, nên trong một lần giao tranh với quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại Đại Lộc, Quảng Nam, ông Trần Quốc Dân đã trốn và vượt qua sông Thu Bồn về được Đà Nẵng. Sau đó, ông được người của ông Ngô Đình Cẩn đưa vào Sài Gòn, và ông đã gặp được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông kể với người thân :

-« Tôi muốn vào Sài Gòn để trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì chỉ có Tổng Thống mới hiểu được những người tham gia kháng chiến và đặc biệt là trường hợp của tôi. Và tôi đã nghĩ đúng. Vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày nguyện vọng của tôi thì Tổng Thống đã dạy rằng : Tôi hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, nhưng thôi vì danh dự của Quân Đội Quốc Gia, em hãy nhận quân hàm Thiếu tá.

Tôi xin được ra chiến đấu nhưng Tổng Thống bảo :
– Không được, hãy về tìm thân nhân để đoàn tụ trước khi nhận công tác.
– Và Tổng Thống nói, vì biết tôi trở về với hai bàn tay trắng, không nhà cửa để nương thân, nên chính từ tay củaTổng Thống đã ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng ( tiền VNCH) để tạo điều kiện cho tôi tái lập gia đình ».
– Trở về Đà Nẵng sau một thời gian ngắn ông Dân mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cưới vợ. Sau đó ông làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị bọn Hội đồng Gian nhân phản loạn giết chết. Là người cứng cỏi nhưng ông Dân đã rơi nước mắt, ông kêu lên :
« Thế là hết, Ngô Tổng Thống không còn nữa thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống ».
Sau một thời gian ông lại tâm sự với người thân :
« Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nước, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ ».

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ với giấy chứng nhận của Bác sĩ vì bệnh tật. Đã bao nhiêu năm qua rồi, nhưng tôi vẫn không hề quên những lời của ông đã kể như sau :

« Vì muốn tiếp tục phục vụ đất nước nên sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi muốn gia nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tôi nhận thấy tại Quảng Nam-Đà Nẵng có hai phái dù hoạt động riêng ; nhưng cũng đều nhân danh là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trước hế, là một lực lượng đông đão có hệ thống, kỹ cương trong đó có : Biệt Kích Quân Tây Hồ, Biệt Chính Nhân Dân, Lực Lượng Tình Báo Tác Chiến, Trung Tâm Dân Ý Vụ và Thanh Niên Đoàn Miền Trung …( Các lực lượng này được hưởng ngoại viện) tất cả đều trực thuộc Trung Ương Pháp Định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

Lực lượng này không bao giờ tham gia vào những cuộc đấu tranh-biểu tình- mang bàn Phật xuống đường của Phật giáo Ấn Quang, mà còn tiếp tay với chính phủ một cách đắc lực không cho Phật giáo chiếm Huế và Đà Nẵng để lập thành lập « Chính phủ Miền Trung » theo chỉ đạo của cộng sản Hà Nội ; và một nhóm thứ hai là Kỳ Đảng Bộ Trung Việt, thường được gọi là Kỳ bộ Trung Việt , hoặc là Kỳ bộ ; nhóm này cũng xưng là Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng luôn ủng hộ và tôn vinh ông Nguyễn Tường Tam là lãnh đạo của Đại Việt Dân Chính. Rất nhiều người đã biết ông Nguyễn Tường Tam vì muốn đứng ké dưới hào quang của anh hùng Nguyễn Thái Học, nên đã có liên minh với Việt Nam Quốc Dân Đảng do cụ Vũ Hồng Khanh, cụ Nghiêm Kế Tổ và cụ Chu Bá Phượng lãnh đạo một thời gian ngắn ; mục đích là để cướp quyền lãnh đạo của Việt nam Quốc Dân Đảng Chính Thống, nhưng không thành. Sau biến cố Ôn Như Hầu, tháng 3/1946, cụ Vũ Hồng Khanh đã rút quân lên vùng Bùi-Phát và đã được Đức Cha Lê Hữu Từ và Giáo dân giúp đỡ phương tiện, kể cả việc cung cấp thực phẩm để thành lập Chiến khu Cao-Bắc-Lạng để chiến đấu với cộng sản. (Bởi Ân Đức ấy, nên khi Đức Cha Lê Hữu Từ tạ thế, chính Tướng Siêu Hải Vũ Hồng Khanh, Nguyên Tư lệnh Chiến khu Cao-Bắc-Lạng, đương kim Chủ tịch Trung ương Pháp định đã ra lệnh cho tất cả đảng viên VNQDĐ trên toàn quốc đều làm lễ Truy điệu và chịu tang).

Còn ông Nguyễn Tường Tam ngay sau biến cố Ôn Như Hầu đã rút lui khỏi liên minh và cùng một nhóm Đại Việt Dân Chính đã chạy trốn sang Tàu… Vì vậy, đương nhiên kể từ lúc đó, tháng 3/1946, là ông Nguyễn Tường Tam đã trở lại với Đại Việt Dân Chính. Nhưng tiếc rằng, vẫn có nhiều người vì không thấu đáo mọi chuyện, nên đã lầm tưởng ông Nguyễn Tường Tam là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tại miền Trung, người ta biết ông Nguyễn Tường Tam đã đứng đàng sau nhiều người.

Trước hết, là ông Lê Đình Duyên cựu Quận trưởng quận Duy Xuyên, Quảng Nam, ông Lê Đình Duyên đã mang con dấu quận trưởng đem trả cho chính phủ, kế đến là ông Phan Thiệp, quận trưởng quận Tam Kỳ, người thứ ba là ông Phan Vỹ, quận trưởng quận Thăng Bình. Cả ba người này sau khi đem trả con dấu Quận trưởng họ đều rút ra bưng cùng một số đảng viên thành lập ra Chiến Khu Nam-Ngãi, để chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Ông Lê Đình Duyên là con ruột của Bác sĩ Lê Đình Thám là người Quảng Nam, là một đảng viên cộng sản kỳ cựu đã tập kết ra Bắc ; song ông đã hồi kết, và vẫn như bóng vời hình tại miền Nam, đặc biệt là tại miền Trung. Chính Bác sĩ Lê Đình Thám là người đã đẻ ra cái gọi là « Gia đình Phật tử », là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Hà Nội. Trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của Bác sĩ Lê Đình Thám, cộng thêm với cảm tình với ông Nguyễn Tường Tam là người gốc Quảng Nam, nên nhóm này đã lôi kéo được một thiểu số đảng viên của Cụ Vũ Hồng Khanh ra chiến khu. Chính điều này, đã đưa Cụ Vũ vào một thế vô cùng khó xữ… Song sau đó nhờ sự sáng suốt của Ông Ngô Đình Nhu mà đa số những người này đã tự ý rời bỏ « Chiến khu Nam- Ngãi » trở về làm việc lại như cũ, chứ Chiến khu Nam- Ngãi không hề bị quân đội VNCH tấn công như những lời tuyên truyền xuyên tạc của Phật giáo. Chỉ có một thiểu số vẫn trung thành với hai ông Nguyễn Tường Tam và Lê Đình Thám mà thôi. Vì vậy, nên cuối cùng tôi quyết định xin cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh, bởi tôi không bao giờ chấp nhận những hành vi của đảng Đại Việt Dân Chính do ông Nguyễn Tường Tam lãnh đạo ».

Chức vụ cuối cùng của ông Trần Quốc Dân là một trong bốn Phó Chủ tịch Thành bộ Hợp nhất Đà Nẵng. Vào ngày 24/03/1975, trong lúc Đà Nẵng chưa mất, nhưng Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo kiểm soát Thành phố Đà Nẵng rồi. Trong lúc ông Dân chuẩn bị đưa vợ con di tản, thì bất ngờ hai ông Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận nhì ( cả hai là cố vấn của LLHHHG thị bộ Đà Nẵng) đã dắt theo một đám thanh niên Phật tử có vũ trang đến nơi ( sau này tất cả đều trở thành công an VC). Hai người vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói :

« Chúng tôi ban lãnh đạo Lực lượng hòa hợp-hòa giải thị bộ Đà Nẵng mời ông lên chùa tỉnh hội ( chùa Pháp Lâm) để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đúng trong lòng dân tộc ».

Nói là « mời » nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông này, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác hơn nên ông Dân đành phải theo chúng lên « chùa ».

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy nên vợ ông đã dắt hai đứa con nhỏ của ông lên « chùa » Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm để xin gặp mặt chồng, nhưng đội « An ninh Phật tử » chặn ngay ngoài cổng không cho vào. Vợ ông khóc lóc van lạy thế nào cũng không được nên đành dắt con trở về.

Ngày 30/03/1975, khoảng 10 giờ sáng, Ủy ban Hòa giải Phật giáo đã đưa ông Trần Quốc Dân đi từ « chùa » Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị viên chức chính quyền, các cán bộ Nghiệp đoàn lao công và các đảng viên VNQDĐ, trong cuộc bạo loạn mang bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966, khi áp giải các vị nói trên đến nhà tù ( chùa) Phổ Đà ở số 340, đường Phan Châu Trinh ĐN. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế mà vẫn chưa đủ mà « An ninh Phật tử » còn cầm súng đi kèm. Thấy ông Trần Quốc Dân bị chúng áp giải trên đường phố, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là « Ủy ban Phật giáo Áp giải ».

Ngày 03/03/1975, khoảng 9 giờ tối, Nguyễn Chơn, tướng VC, đã cùng mấy tên cận vệ đến nhận ông Trần Quốc Dân tại nhà giam rồi dẫn ông ra khỏi trại. Đến sáng hôm sau, người ta phát hiện ông Trần Quốc Dân đã chết, xác ông được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng ; và trên thân thể của ông có nhiều vết đạn. Ai cũng hiểu rằng những vết đạn ấy là do chính Nguyễn Chơn đã bắn chết ông Trần Quốc Dân.

Điều đáng nói không phải là chuyện Nguyễn Chơn xử tử ông Trần Quốc Dân, bởi Chơn là cộng sản thì giết người là chuyện bình thường. Mà điều đáng phải lên án là cái « Lực lượng Hòa hợp- Hòa giải Phật giáo », đã theo lệnh của Việt cộng là phải bắt ông Trần Quốc Dân giam trong chùa Pháp Lâm từ ngày 24/03/1975 , để chờ giao cho Nguyễn Chơn để xử bắn. Ngoại trừ cộng sản, không ai có thể chấp nhận được những việc làm tàn ác này của Phật giáo Ấn Quang. Bởi, nếu Phật giáo không sai Thích Như Ký và Huỳnh Phổ Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN, đến bắt ông Trần Quốc Dân đem giam tại chùa rồi đem nộp mạng cho Nguyễn Chơn, trong lúc ông sữa soạn đưa vợ con di tản, thì biết đâu có thể ông đã ra hải ngoại, hoặc vào tù cải tạo, hay chết trong tù chứ không chết một cách tức tưởi như thế !!!

Sau khi ông Trần Quốc Dân đã chết bọn VC đã xông vào nhà ông dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà. Vợ ông chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt hai đứa con thơ về nương tựa với mẫu thân tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

(còn tiếp)

HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

http://www.dangvannham.com/modules/news/article.php?storyid=299

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s